Chơi chữ - nghệ thuật truyền thống đáng quý!

Chơi chữ là một thi pháp cổ xưa có ở mọi ngôn ngữ, mọi quốc gia. Là biểu hiện của trí tuệ, sự giàu có về vốn sống, vốn từ ngữ nên nó nghiêm túc, mực thước (ở vẻ bề ngoài) nhưng đồng thời lại là sự hạ bệ, cười cợt nhờ phẩm chất hài hước biết phát hiện những mâu thuẫn đáng cười của sự vật, hiện tượng (ở phía bên trong, bản chất).

Dân gian chơi chữ rất thú vị: “Đi tu Phật bắt ăn chay/ Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không” là cách chơi chữ khác âm đồng nghĩa (thịt chó/ thịt cầy). Hay “Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn” là cười vui đồng âm khác nghĩa (lợi/ lợi). Thơ thời Hồng Đức bắt đầu có ý thức chơi chữ Nôm nhưng mới dừng lại ở ngẫu hứng vui vẻ khi tả sự vật cho thêm phần ngộ nghĩnh: “Đá ấy xương, cỏ ấy lông/ Trời Nam đứng giữa gọi Nam công/ Múa vai bóng rợp dân muôn họ/ Giương cánh nâng phò nước chín trùng/ Lóng lánh kiền khôn thế giới/ Xênh xang xuân hạ thu đông/ Đành hay là giống trời sinh cỏ/ Ngỏng cổ chầu về đất tổ tông” (Núi Nam Công). Tả núi có tên công (chim) thì dùng các chữ chỉ bộ phận: xương, lông, vai, cánh, cổ. Hầu hết các vở chèo cổ đều sử dụng lối chơi chữ. Trí tuệ, hài hước dân gian đi vào mỹ học sân khấu toả ra những ánh xạ văn hóa mới. Đây là chỗ bất ngờ của sự hóm hỉnh trong vở “Từ Thức”:

“Từ Thức: Cô tiên ở động thứ chín đấy!
Hề: Ô, thế ra ở gần động bu nó nhà cháu đấy!
Từ Thức: Bu nó nhà mày ở động nào?
Hề: Dạ… dạ… ở động cỡn ạ!”.

image001.jpg -0
Tranh minh họa cảnh Nguyễn Công Trứ chơi (chữ) ngông với đời.

“Động cỡn” là từ thông tục chỉ một trạng thái hưng phấn (thường nói về luyến ái/ dục tính) của nam nữ được “hề” chơi chữ để bật ra cái ý có là “tiên” cũng “động cỡn” như thường. Trong chèo “Kim Nham” nhân vật thầy Bèo khấn: “Cóc chết để ngoé mồ côi/ Ngoé ngồi ngoé khóc than ôi chẫu chàng/ Ễnh ương đánh vỡ nồi rang/ Để cho chàng lại chạy sang bắt đền/ Chuộc, chuộc... chẳng chuộc thì thôi!” thì trong mỗi câu đều có một con vật họ hàng gần gũi nhau (cóc, ngóe, (chẫu) chàng, ễnh ương, (chẫu) chuộc). Ở đây là chơi chữ đồng âm “chẫu chàng” (con vật) và “chàng” (là người chồng), con “chẫu chuộc” (danh từ) và “chuộc” (động từ). Trong “Lưu Bình - Dương Lễ” là những lời đùa vui của anh hề: “Không ăn thì thôi, cho năm tiếng mõ lấy hơi mà về, gọi là có hơi ngũ cốc”. Anh mõ chơi chữ “ngũ cốc” được hiểu là “năm” tiếng “cốc” tức âm thanh của mõ. Còn “ngũ cốc” từ Hán Việt chỉ năm loại lương thực... Vượt lên trên sự chơi chữ thông thường là sự sáng tạo trí tuệ, vui vẻ, cười cợt không giới hạn, không có vùng cấm của tiếng cười dân gian.

Chơi chữ sinh động, tài hoa hơn trong văn chương bác học. Giai thoại kể Chiêu Hổ trêu Hồ Xuân Hương qua lối chơi chữ chiết tự: “Người cổ lại còn đeo thói nguyệt/ Buồng xuân chi để lạnh mùi hương”. Theo Hán tự thì chữ “cổ” ghép với chữ “nguyệt” thành chữ “hồ”. Câu thơ dí dỏm, tinh quái vừa gọi tên nữ sĩ vừa làm bật ra cái tính cách có phần lẳng lơ (đeo thói nguyệt) nhưng đang trong hoàn cảnh cô đơn, trống vắng (lạnh mùi hương).

Cái gốc vững vàng, chắc chắn của cây đại thụ Nguyễn Công Trứ có những chùm rễ khỏe mạnh cắm sâu vào văn mạch dân gian để hút dinh dưỡng văn hóa. Thơ ông giàu sức sống, gần gũi với tư duy và tâm hồn người Việt vì có điểm tựa là những thành ngữ, tục ngữ. Chỉ ví dụ qua một bài “Trò đời”: “Một lưng một vốc kém chi mô/ Cho biết chanh chua khế cũng chua/ Đã chắc bữa trưa chừa bữa tối/ Mà tham con giếc tiếc con rô/ Trăm điều đổ tội cho nhà oản/ Nhiều sãi không ai đóng cửa chùa/ Khó bó cái khôn còn nói khéo/ Dầu ai có quấy vấy nên hồ”.

Bài thơ hình thành trên lối chơi chữ dựa trên các thành ngữ “Một lưng một vốc” và các tục ngữ “Chanh chua thì khế cũng chua”; “Chắc bữa trưa chừa bữa tối”; “Tham con giếc tiếc con rô”; “Trăm điều đổ tội cho nhà oản”; “Nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”; “Cái khó bó cái khôn”; “Có quấy mới vấy nên hồ”.

Tiếng cười Nguyễn Công Trứ là sự kết tinh chất trí tuệ bác học cá nhân và cái hóm hỉnh khỏe mạnh, láu lỉnh sắc sảo và có cả cái thông tục suồng sã của văn hóa dân gian. Có giai thoại, đang đường đường là quan Thượng thư Tổng đốc, Nguyễn Công Trứ bị giáng xuống làm chức Lang trung trong dinh Tuần phủ An Giang. Một người hỏi chức “Lang trung” là thế nào? Ông giải thích: “Lang” có nghĩa là chồng. Có ba vợ nhưng ông chồng nọ chẳng may chết sớm. Bà vợ đầu ôm đầu chồng khóc: “Ô hô! Lang thủ” (Ôi! Cái đầu chồng tôi!). Bà hai ôm chân kêu: “Ai tai! Lang túc” (Ôi! Cái chân chồng tôi!). Chẳng có chỗ nào “bấu víu”, bà ba đành ôm “khoản giữa” nức nở: “Y hi! Lang trung” (Ôi! Cái “giữa” chồng tôi!). Ông khôi hài kết luận: “Lang trung” là như vậy!… Gạt lớp muối hài thì hạt nhân của câu chuyện là quan niệm công danh chức vụ cũng chỉ như cái “khoản giữa” ấy mà thôi! Một lối chơi chữ ngộ nghĩnh nhưng bật ra được cả một nhân cách lớn!

image002.jpg -0
Một cảnh trong vở “Từ Thức”.

Là một bậc đại Nho, dưới cái nhìn Nguyễn Khuyến, những ông nghè, ông cống, ông tiến sĩ danh cao vọng trọng đủ cả cờ biển, mũ áo vua ban những tưởng sẽ đem tài học ra giúp nước, giúp dân nhưng thực chất cũng chỉ là một thứ đồ rởm, một thứ đồ chơi mua vui cho thiên hạ: “Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe/ Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi” (Tiến sĩ giấy). Đó là đám vua quan có vẻ uy nghi, đường bệ nhưng lại đám trò mua vui với “vua chèo”, “quan nhọ” chẳng “khác chi thằng hề”. Đó là những ngày “hội thăng bình” vui vẻ trong cảnh “pháo reo” với “cờ kéo”, “đèn treo”, “bơi chải”, “hát chèo”, “đánh đu”, “leo cột mỡ”... Nhưng “vui thế bao nhiêu” lại “nhục bấy nhiêu”…

Thơ Yên Đổ hóm hỉnh mà trí tuệ nhờ những mâu thuẫn bất ngờ: “Ăn mày chớ có ăn tao nhé!”. “Mày”, “tao” đều là đại từ chỉ thị, nhưng “ăn mày” lại là danh từ chỉ nghề nghiệp mưu sinh. Một cách chơi chữ động từ “ăn tao” với danh từ “ăn mày” nhưng thẳm sâu đắng đót một nỗi đau sâu sắc về kiếp con người: nghèo đến mức phải chịu nhục mà đi ăn mày, nhưng rồi liệu còn có thể xin ăn được mãi(!?). Đó là những mâu thuẫn nằm ngay trong nội dung của đối tượng cười.

Nhà thơ mỉa cái loại gái bám lấy Tây, theo Tây là theo loài “quỷ sứ”: “Cái gái đời này, gái mới ngoan”. “Ngoan” nên “quyết tình ẩu chiến với Tây đoan”. “Ẩu chiến” là lối chơi chữ mỉa bằng cách nói ngược. Nhà thơ chửi thâm thúy một mụ Tư Hồng vừa theo Tây vừa lừa lọc (buôn gạo lậu, bị bắt thì nói dối là đi phát chẩn) qua câu đối: “Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá lẫy lừng băm sáu tỉnh/ Nào biển, nào cờ, nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người”.

Câu đầu chửi đối tượng được dựa vào gần như nguyên văn thành ngữ trào phúng: “Làm đĩ có tàn, có tán, có hương án thờ vua”. Cũng gần như nói thẳng: mụ là đĩ! Thế mà mụ lại được ban tặng nọ kia (triều đình tặng mụ Tứ phẩm cung nhân) thì kẻ ban tặng cũng chỉ xứng mang tư cách “đĩ” mà thôi (!). Tương truyền, trong buổi Tư Hồng về làng khao, Nguyễn Khuyến mừng câu đối rất ác: “Tứ phẩm sắc phong hàm cụ lớn/ Trăm năm danh tiếng của bà to”. Ác ở chỗ đối “của bà” (danh từ sở hữu chỉ bộ phận cơ thể) với “hàm cụ” (còn có thể hiểu là “hàm răng”): “Hàm” cụ lớn nhờ “của” bà to. Nhờ con nên bố đẻ cũng được triều đình phong “hàm”!!!

Nhà trào phúng có lối chơi chữ nói lái rất tài. Mụ me Tây nọ giàu có lại hợm hĩnh xin câu đối. Ông bèn cho ba chữ “Chi chi dã!” bằng chữ Hán. Mãi sau mới có nhà Nho giải thích rằng đó là câu chửi bằng cách “lái âm”: “Cha cha đĩ!”. Có người ra vế đối: “Nhắc mồi câu thả xuống Cầu Môi”. Hiểm ở cách nói lái “mồi câu” (danh từ) và “Cầu Môi” (danh từ riêng). Nguyễn Khuyến đối lại ngay: “Đem đố cổng nhét vào Cống Đổ” cũng tuân theo cách nói lái (“đố cổng” là những thanh gỗ ngang dọc liên kết với nhau để cánh cổng chắc chắn). Cống Đổ và Cầu Môi đều là địa danh có thật. Kể ra chữ “thả” đối với chữ “nhét” thì chưa chuẩn nhưng trong văn cảnh toàn câu thì đây vẫn là câu đối hay, chưa thấy ai vượt qua(?).

Như vậy phép chơi chữ làm câu văn sinh động, hoạt bát nhờ lấp lánh chất muối hài mặn mòi ngộ nghĩnh, hóm hỉnh. Ngoài tiếp nhận thông tin, người đọc còn được thưởng thức chất trí tuệ, vốn học vấn, sự liên tưởng... Trong dòng chảy cuộc sống hôm nay chơi chữ vẫn đang được sử dụng như một phương tiện gây cười khỏe khoắn (đấu tranh/ tránh đâu; đầu tiên/ tiền đâu…) nhưng trong văn chương (cả sáng tác và nghiên cứu, phê bình) lại ít được chú ý. Đó cũng là một lý do để văn chương xa đời sống, khô khan bởi thiếu một sự hấp dẫn, dí dỏm. Phải chăng đây là điều nên được khắc phục!?

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).