Chợ Nôm nhộn nhịp ngược xuôi

Làng Nôm (xã Đại Đồng-Văn Lâm-Hưng Yên) có thế đất dáng con thuyền bên kênh đào phụ lưu sông Đuống. Nếu nhìn từ trên cao hình ảnh làng giống như một chiếc cân. Cây đa cổng đình là mũi đồng cân. Đường làng tựa chiếc cần dài. Còn quả cân là Văn chỉ của làng. Vậy nên mọi người ngày đêm lận đận làm ăn trên mọi nẻo đường quê. Trẻ nứt mắt đã nghe lời ru: "Con ơi mẹ dặn câu này/ Học buôn học bán cho tày người ta".

Xa xứ phận con buôn

Quanh vùng cổ Luy Lâu xa xưa đều có làng làm nghề đúc đồng. Làng Nôm ở giữa lại kề bên sông hồ. Mỗi lần lũ về là chìm trong biển nước mênh mông. Đã mấy trăm năm vùng chiêm trũng này thợ đúc đồng đều phải nhờ dân làng Nôm chở thuyền hàng đi bán. Dần dần mọi người rủ nhau đi mua đồ đồng nát về bán cho cánh thợ đúc. Chợ Nôm hình thành cách đây hơn 200 năm phía trước chùa Linh thông cổ tự mọc ra những quán đồ đồng. Từ đó dân năm xã đúc đồng quanh vùng đều về chợ mua vật liệu để làm hàng.

Cái nghề đi buôn đồng nát của làng Nôm như trời định. Cánh trai làng đều dong thuyền từ đêm đi giao hàng. Còn các bà các cô gồng gánh trên vai tất tả trên mọi nẻo đường thu mua đồng nát. Họ rong ruổi ngõ ngách trong kinh thành hay bươn bả tới các làng quê từ tinh mơ. Vì thế nghề đúc đồng làng Nôm cũng ngày ngày phát triển. Dân làng còn xây cả quán xá trong kinh thành và tạo nên những dãy phố bán hàng và thu mua đồng nát. Đó chính là phố Hàng Đồng vẫn tồn tại cho đến ngày nay ở Hà Nội. Không chỉ có vậy dân làng Nôm còn vào tận Đàng trong để dựng nghiệp. Có người đã theo chân chúa Nguyễn vào kinh đô và đã trở thành tổ nghề đúc đồng ở Huế tới hơn 300 năm trước. 

1-ch--nôm.jpg -0
Chợ Nôm.

Dân làng Nôm dựng nghiệp từ nghề buôn bán đồ đồng và đã hình thành một đội ngũ thương nhân nức tiếng giàu có khắp nơi. Họ còn vang danh trên cả nước. Ca dao của làng đã truyền tai: "Cái Bống đi chợ cầu Nôm/ Sao mày không rủ cái Tôm đi cùng/ Cái Tôm nó giận đùng đùng/ Nó đi xuống bể lấy chồng lái buôn". Dân làng Nôm trở nên giầu có vì buôn bán. Trong làng có cụ Tạ Văn Tiếp bỏ tiền xin phép xây cả một trạm ga xe lửa (Đông Xá) gần làng để mọi người về buôn bán tại đất cảng Hải Phòng cho thuận lợi. Cụ còn cho đặt một cái cân lớn ở ga để mọi người kiểm tra hàng. Thậm chí bà Tạ Thị Mai (con cháu cụ Tiếp) đã trở thành chủ hiệu Đại Hưng Long, chuyên buôn bán đồ đồng lớn nhất ở Hải Phòng. Bà có tới 36 gian kho trên đất cảng để xuất khẩu hàng đi nước ngoài.

Người làng Nôm còn nức tiếng với dòng họ Phùng: "Gạo nếp cái. Gái họ Phùng". Những cô gái họ Phùng đều đẹp và giỏi giang. Cụ bà Phùng Thị Tám chỉ bằng đôi quang gánh lang bạt vào tận Thanh Hóa làm ăn mà trở nên giàu có. Dân làng kể bà đã tậu đất làm nhà cho thuê và còn mua được cả chức lý trưởng cho chồng. Không những thế bà còn tập trung nuôi các con ăn học thành tài nên đã được vua ban cho bốn chữ "Tiết hạnh khả phong".

Chưa hết, gái họ Phùng nổi như cồn ở Thanh Hóa còn có cô Phùng Thị Thanh Xuân. Sinh thời cô đến tận làng Cổ Am (Thiệu Hóa-Thanh Hóa) buôn đồng nát nhưng đã bị đột tử. Cô mất vào giờ thiêng trên đất Cổ Am. Sau đó nhiều thiên tai, dịch họa đã được cô hiển linh hóa giải cứu giúp dân làng. Vì thế dân làng lập miếu thờ. Nơi đây người ta vẫn còn giữ đôi quang gánh của cô cùng cái cân mã tấu và chiếc nón đã sờn vành.

Tại thành phố Thanh Hóa có cả đường phố mang tên Phùng Thị Thanh Xuân phải chăng cũng khởi nguồn từ sự linh thiêng tâm linh này. Tại làng Nôm người họ Phùng cũng lập đền thờ vọng cô như một sự tưởng nhớ đến tổ nghề buôn bán đồng nát thuở xa xưa. Chợ Nôm hàng trăm năm qua luôn được dân làng ghi nhận với sự thăng trầm và tha hương. Ca dao xưa truyền tụng: "Đồng nát thì về Cầu Nôm/ Con gái nỏ mồm bán gả chồng xa/ Khi nào em trở về già/ Quê chồng thì bỏ, quê cha thì về". Hay còn dị bản khắc ghi: "Đồng nát thì về cầu Nôm/ Con gái nỏ mồm về ở với cha".

Làng cổ ngàn năm

Mọi người vào chợ nhưng luôn luôn phải đi qua cửa chùa Nôm. Không ở đâu có chùa cổ lại rộng đến vậy (15ha). Trước nghe nói đây là đồi rừng thông cổ thụ dễ đến ngàn năm. Ngôi chùa đã có từ lâu cách đây mấy trăm năm mới được xây dựng lại và được gọi là "Linh Thông Cổ Tự". Nhưng đây là chùa của làng buôn bán nên dân gian gọi đích danh là chùa Nôm. Chùa được xây dựng khang trang từ thời Hậu Lê (1680). Các nghệ nhân đã về đây luyện đất khắc tượng Phật. Dân làng thường tới cung tiến và cử người giúp việc. Hơn một trăm tượng La Hán đã được sơn son bồi lụa đẹp như người thật. Những bàn tay tài hoa đã ghi dấu ấn nơi đây như một bảo tàng tượng Phật bằng đất độc nhất vô nhị. Đã hơn ba trăm năm những tượng phật vẫn bền bỉ sắc mầu tươi như mới.

2-c-u-dá-làng-nôm.jpg -0
Cầu đá làng Nôm.

Điều kỳ lạ có những trận lụt kéo dài hàng chục ngày vào những năm 1945, 1971 và 1986. Nước lũ ngập tới mái chùa. Các pho tượng phật đều bị ngâm ướt lâu ngày. Vậy mà sau khi nước rút các "lão" phật La Hán vẫn rạng rỡ ánh sáng phát ra từ đôi mắt cùng với nụ cười hiền hậu an ủi lòng người. Dân làng Nôm cho dựng chùa có vòm mái hình chiếc thuyền úp để cầu trời phật luôn giúp dân thoát khỏi những thiên tai sông nước và buôn bán làm ăn phát đạt. Vậy nên cổng tam quan chùa được xây bằng gỗ lớn nhất mà không nơi nào có được.

Hiện cổng tam quan chùa cổ này được coi là một kỷ lục với những điêu khắc dân gian đậm dấu ấn phật giáo của vùng đồng bằng Bắc bộ. Đó là những hình tượng tứ linh độc đáo tinh xảo. Cổng chùa thật tráng lệ thể hiện sức sáng tạo trong văn hóa làng quê. Cổ tự thơ đề rằng: "Linh thông cổ tự ngỡ ngàng/ Cây đề, cây gạo bóng choàng trăm năm/ Tam Quan cao ngất đâu bằng/ Trăm tượng La hán rỡ ràng linh thiêng" (Nguyễn Thông).

Do dân làng phải đi buôn bán làm ăn ở xa nên những dòng họ lớn đều cho xây nhiều nhà thờ tổ. Hiện làng Nôm nổi tiếng với những ngôi nhà cổ vài trăm năm được kiến trúc cổ kính dọc đường làng lớn bên hồ nước trong xanh. Nhưng có lẽ lớn hơn cả là đình làng thờ thần Tam Giang. Nhất là đình phía ngoài còn làm hoàn toàn bằng đá xanh được mua từ Thanh Hóa đưa về. Truyền kỳ về thần Tam Giang vẫn được lưu truyền với câu chuyện cổ tích đặc sắc. Vào thời Tây Hán có một cô gái tên là Tĩnh xinh đẹp và dịu dàng. Nhưng nàng không lấy chồng một lòng theo đạo Phật tu thân. Có lần nàng ra ngã ba sông tắm gội bỗng nhiên trời đất tối sầm. Sấm chớp và gió giật từng cơn. Một con thuồng luồng nổi lên quấn lấy tấm thân ngọc ngà của nàng rồi bỏ đi.

Đêm đó nàng Tĩnh về chùa rồi ngủ lại trước án bàn thờ. Trong mơ nàng thấy mình vớt vầng trăng rồi nuốt vào miệng. Khi tỉnh dậy nàng mới biết mình đã có thai. Bụng mang dạ chửa đúng chín tháng mười ngày nàng sinh hạ được cậu con trai và đặt tên là Tam Giang với ý nghĩa là người con của ba dòng sông hội tụ. Tam Giang lớn lên dũng mãnh có sức khỏe vô song. Chàng là tướng của Hai bà Trưng có công dẹp giặc rồi lập nên trại Đồng Cầu (Làng Nôm ngày nay). Một lần đi đánh giặc tướng Tam Giang tử trận rồi bị dòng nước cuốn trôi dạt về đúng làng quê. Từ đó dân làng Nôm xây đình thờ và tôn vinh ngài là đức thánh Thượng đẳng Tam Giang.

Cầu đá bệ rồng

Cầu đá xanh làng Nôm được xây cùng thời với đình ngoài cách đây hơn 200 năm. Dân kẻ chợ lắm tiền đổ vào xây đình chùa rồi xây luôn chiếc cầu đá. Người tứ phương đi chợ rất thú vị với chiếc cầu này vì bằng phẳng liền mạch nhẵn thín. Đi mưa không trơn trượt tuy độ rộng chỉ bằng hai người gồng gánh gặp nhau (chừng 2 mét). Cầu Nôm có 9 nhịp với 27 cột chống và 9 cột ngang được đục khắc vân mây. Trên đầu mỗi cột chống các nghệ nhân đục một đầu rồng tạo nên sự vững chãi và sống động cho mỗi bước chân khách lãng du. Cầu được xây dưới một cây gạo cổ quanh năm xanh tốt xum xuê nên cảnh sắc hữu tình. Mỗi mùa lũ về sông rộng hẳn ra chiếc cầu lấp xấp trên mặt nước giống con thuyền đá nghiêng nghiêng trôi trên dòng xoáy. Vậy xưa mới có câu quan họ: "Chợ Nôm nhộn nhịp ngược xuôi/ Ai qua cầu đá dắt tôi đi cùng/ Chân cầu có chín mắt rồng/ Tôi sợ say sóng bởi dòng nước trôi".

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).