Cây gậy huyền diệu

Một câu chuyện ngụ ngôn triết lý về đời người: Con gì buổi sáng đi bốn chân, buổi trưa đi hai chân, buổi chiều đi ba chân. Đáp: Con người. Thì ra đời người là một hành trình đi. Còn nhỏ thì “đi” bằng cách bò; lớn lên thì đi một cách đích thực, mạnh mẽ, khoẻ khoắn; về già cũng đi nhưng phải chống gậy. Cây gậy quen thuộc và gắn bó với bất cứ ai...

Vị Hoàng đế có cậy vương trượng biểu tượng cho quyền lực. Vị Thống chế có cây gậy chỉ huy. Kẻ ăn mày cũng dùng, “tay bị, tay gậy…”. Nhân vật Tôn Ngộ Không trong “Tây du ký” gắn liền với cây gậy Như Ý, nếu thiếu nó sẽ chẳng đánh được yêu tinh… Thời hiện đại người ta hay nhắc tới hình ảnh “cây gậy và củ cà rốt” mang tính biểu tượng cho kiểu chính sách ngoại giao của các nước lớn nhằm chi phối các nước nhỏ. “Cây gậy” biểu tượng cho sự trừng phạt, đe doạ; “củ cà rốt” tượng trưng cho quyền lợi, ban phát…

Những năm trước ai lên Yên Tử cầu Phật cũng thấy hai bên đường bắt đầu lên núi có cả hàng đống gậy. Người ta dùng gậy đi cho chắc chắn vững vàng hơn. Ai đã từng lội suối dữ thấy cây gậy cần đến mức nào, để dò và dọn đường, để kéo đồng đội, để làm vũ khí đuổi rắn rết… Cây gậy quen thuộc đi vào miền văn hoá, trở thành biểu tượng cho mọi tôn giáo, mọi cộng đồng rồi trở thành một trong những mẫu gốc phổ quát nhất của văn hoá nên thành ra lạ lẫm.

Vương trượng của Hoàng gia Anh.
Vương trượng của Hoàng gia Anh.

Theo thần thoại cổ Hy Lạp, vị thần Esculape - ông tổ ngành y dược - gặp một con rắn, bèn đưa gậy ra, con rắn bò lên quấn vào gậy. Thần đập gậy xuống đất để giết rắn. Ngay lúc đó một con rắn khác bò tới, miệng ngậm thảo dược cứu con rắn kia. Từ đấy ông đi tìm kiếm các loại cây cỏ trên núi để chữa bệnh cứu người. Về sau nhân loại biết ơn mà thờ thần Esculape luôn cầm một chiếc gậy bằng gỗ cây nguyệt quế có một con rắn quấn chung quanh.

Cũng theo truyền thuyết Hy Lạp, cây gậy còn phát ra lửa do thần Hermes cầm hai cây gậy đập vào nhau. Lửa này là lửa trần thế mang ý nghĩa phát minh, tìm tòi khác với ý nghĩa ngọn lửa biểu tượng cho cuộc sống văn minh khi thần Promêtê đánh cắp từ trên trời giúp người dân dưới hạ giới thoát khỏi cảnh hoang dã mông muội tối tăm.

Theo truyền thuyết đạo Thiên Chúa, Thánh Giôdép vốn xuất thân là một người thợ mộc, sau này lấy Mari làm vợ. Thời Mari còn thiếu nữ có rất nhiều chàng trai đến dạm hỏi. Nhà Mari chọn rể bằng cách cho các chàng trai đặt một chiếc gậy của mình vào chung một chỗ, gậy của ai nở hoa thì người đó sẽ được lấy Mari.

Chiếc gậy của chàng thợ mộc Giôdép nở hoa... Họ cưới nhau, Mari được thần Gabrien báo cho biết nàng sẽ sinh ra Jêxu là con của Thượng đế và sẽ là Chúa Cứu thế. Chàng Jôdép thì mơ thấy mình được trao nhiệm vụ giữ Mari làm vợ còn Jêxu sẽ là con nuôi. Mari là mẹ nhưng vẫn là đồng trinh, sau này được con chiên luôn ngưỡng mộ gọi là Đức Mẹ Đồng Trinh Mari... Truyền thuyết để lại cho nhân loại bài học về tình yêu đích thực, chung thuỷ, hy sinh trọn vẹn vì nhau thì có khô rắn như cây gậy cũng nở hoa sự sống!

Truyền thuyết về nhà lãnh tụ tôn giáo Moes (cũng là nhà tiên tri) gắn liền với hình tượng cây gậy. Khi Moes đến vùng Marah thì thấy dân chúng phải dùng nguồn nước đắng, ông bèn lấy cây gậy ném xuống, nước hoá ngọt. Khi đến vùng Rephidim khô hạn đào sâu mãi vẫn không có nước, Moes liền lấy gậy đập vào một tảng đá, nước tuôn ra như xối. Như vậy cây gậy của Moes biểu trưng cho sức mạnh bắt thiên nhiên phải phục vụ con người.

Cây gậy Như Ý của Tôn Ngộ Không có hai đầu bịt vàng, nặng một vạn ba ngàn năm trăm cân có thể to nhỏ dài ngắn theo ý chủ, khi to nhất làm cột chống trời, lúc nhỏ nhất chỉ bằng cái kim giắt ở tai. Tại sao không phải số khác mà là 13500? Nó ứng với quan niệm nhà Phật một ngày người ta hít thở dài 13500 lần  (thở ngắn thì 84000 lần).

Gậy Như Ý là vật báu của vua biển Long Vương nên Ngộ Không luôn giữ gậy ở trong vành tai. Vì ngũ quan trên mặt người tương ứng với ngũ hành, tai thuộc hành thuỷ (mắt là mộc, lưỡi là hỏa, miệng là thổ, mũi là kim)… Thế là cây gậy Như Ý này ngoài chức năng vũ khí trừ diệt yêu ma còn biểu hiện đời sống văn hoá của con người.

Trong truyền thuyết Trung Hoa cổ thì dịp Tết Nguyên đán, người ta để cây gậy bằng gỗ cây đào trước cửa nhà nhằm mục đích xua đuổi tà ma. Những ông Tiên (Đạo giáo) thường cầm gậy đỏ có bảy hoặc chín đốt tượng trưng cho các cửa ải mà người thụ pháp vượt qua mới được thụ phong giáo lý.

Trong nhiều truyện cổ của ta thời trung đại cũng có biểu tượng này nhưng hầu hết gắn với các tôn giáo. Truyện “Thiền sư Tịnh Giới” kể khi đi quyên góp tiền của đúc chuông quý thì trời đổ mưa, thiền sư liền đứng giữa sân chỉ gậy lên trời và trừng mắt nhìn lên. Một lúc sau mưa tạnh, trời sáng.

“Truyện Man Nương” kể vào năm đại hạn Man Nương đem cây gậy (được nhà sư Đồ-Lê cho) vẩy trên đất, phút chốc nước tuôn ra như suối chảy. Chàng trai nghèo khó Chử Đồng Tử được tiên ông tặng cho cái nón và gậy. Chàng cắm gậy và úp nón vào đầu gậy thì tự nhiên nhà cửa phố phường hiện lên (truyện “Đầm Nhất Dạ Trạch”). Từ Đạo Hạnh khi tu hành đắc đạo liền cầm cây gậy mà ném xuống dòng nước. Gậy trôi ngược rồi dừng lại ở cầu Tây Dương. Ông biết đã đủ phép để đánh thắng kẻ giết cha mình là Đại Điên (truyện “Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không”)…

Như vậy cây gậy, với thiền sư thì là bùa phép để ngăn mưa cản gió (thiền sư Tịnh Giới); với dân nghèo tốt bụng gậy là phương tiện cứu người, giúp người, mang hạnh phúc, may mắn đến cho người (Man Nương, Chử Đồng Tử); với đạo sỹ là tín hiệu thông linh báo điều hằng mong mỏi (Từ Đạo Hạnh)…

Tranh vẽ Thánh Gióng nhổ tre làm gậy đuổi giặc Ân.

Tranh vẽ Thánh Gióng nhổ tre làm gậy đuổi giặc Ân.

Trong văn hoá Việt Nam, hình tượng cây gậy với tư cách là một biểu tượng giàu có và sâu sắc ý nghĩa nhất là cây gậy đuổi giặc của Thánh Gióng. Nó chứng minh một cách sống động tinh thần quật khởi không chịu làm nô lệ của người dân Việt. Gậy sắt gẫy, Gióng nhổ tre, tức là lại có tiếp hàng triệu, hàng triệu những cây gậy khác để đuổi giặc xâm lăng. Quả vậy, những thế hệ tiếp sau Gióng lại dùng gậy tre, gậy tầm vông…để giành lại độc lập tự do.

Cây gậy trong văn hoá truyền thống Hàn Quốc mang một nét bản sắc rất riêng. Ở các ngôi làng cổ xưa người ta luôn dựng một cây gậy (sotdae) ở đầu làng, tượng trưng cho thần bảo hộ và cũng là cột cây số làm ranh giới làng nọ với làng kia. Vì nhà cổ làm bằng gỗ dễ xảy ra hoả hoạn nên cây gậy này còn mang ý nghĩa ngăn thần lửa. Người ta thường treo hình con vịt lên đầu gậy với ý vịt gắn liền với nước, tượng trưng cho nước mà nước thì kỵ hoả (thuỷ khắc hoả)…

Trong nhiều nền văn hoá thảo nguyên, gậy là biểu tượng của người đỡ đầu, người thầy với mẫu gốc ban đầu là người chăn cừu/dê luôn cầm cái gậy để hướng con vật đi đúng hướng. Tương tự, người trò có nghe/làm theo hướng dẫn của thầy mới trưởng thành. Như vậy gậy là biểu trưng cho sự dẫn lối chỉ đường (ngày nay cảnh sát có “gậy giao thông”).

Có lẽ từ ý nghĩa dẫn lối này mà nhiều người hiểu chính sách “cây gậy và củ cà rốt” theo hướng khác: người ta treo củ cà rốt vào đầu gậy rồi buộc trên đầu con lạc đà, con vật tội nghiệp cứ hướng theo củ cà rốt mà đi, tưởng rằng sắp có miếng ăn ngon nên cứ đi, đi mãi… Tức là chính sách “đánh lừa” độc ác, thâm hiểm…

Ở xã hội Hy Lạp cổ, gậy là biểu trưng cho nội dung giảng dạy của các giáo sư: cầm gậy đỏ biểu trưng cho người anh hùng khi giảng về trường ca “Iliad”, cầm gậy vàng biểu trưng cho cuộc hành trình của Ulysse trên biển khi giảng về “Odysses”.

Qua những giới thiệu khảo lược trên cho thấy, gậy là biểu tượng văn hoá đặc sắc của nhân loại. Nhưng biểu tượng này lại phái sinh từ “mẫu gốc” là biểu tượng “cây” (gậy thường làm từ cây) vốn là biểu tượng lớn có trong mọi tôn giáo, mọi cộng đồng. Như cây bồ đề trong Phật giáo, cây Đời trong truyền thuyết Kitô giáo. Rồi cây sồi, cây tùng, cây ô liu, cây đa… Tất cả đều có chung đặc điểm là bề thế vững chãi và sống rất thọ để trở thành Cây Vũ trụ, Cây Ánh sáng… ôm chứa rất nhiều mã.

Đẻ ra từ “mẫu gốc” nhưng biểu tượng cây gậy tự nó đã tạo ra một đời sống mới, một hệ thống mã mới và càng ngày càng giàu có thêm. Nhưng vẫn giữ nét nghĩa từ mẫu gốc, “cây” là vật trung gian nối đất và trời thì “gậy” cũng thường đứng thẳng: cây trượng của nhà vua, gậy của thiền sư chỉ thẳng lên trời, của Chử Đồng Tử cắm xuống đất… Đứng thẳng để biểu hiện quyền lực (chống trời) và được tiếp thêm sức mạnh từ cả trời và đất!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).