Cao Thanh Mai: Lời châu thổ trổ xanh chín nhánh

Cao Thanh Mai là nữ nhà văn đến từ xứ gạo trắng nước trong Cần Thơ vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam cuối năm 2024 vừa rồi. Có lẽ, với nhiều người hoạt động văn chương phía nam thì chị không xa lạ, nhưng trên bình diện toàn quốc chị lại chưa được biết đến nhiều. Âu cũng bởi do tính cách lặng lẽ và thường chọn đứng ngoài những cuộc vui. Nhưng, với văn chương thì Cao Thanh Mai lại là một người viết bằng tâm thế tử tế.

Nhà văn áo xanh hiền lành thuần phác

Thượng tá Cao Thanh Mai vốn xuất thân là giáo viên Trường Quân sự Quân khu 9, yêu văn chương và âm thầm viết trong những tháng ngày còn là giáo viên. Mãi đến năm 2015, truyện ngắn "Trầu không xanh lá" của chị đoạt giải trong cuộc thi do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, độc giả mới thấy một giọng văn thuần phác từ miệt Cửu Long nổi lên với lối viết như thủ thỉ kể chuyện. Cứ nhẩn nha kể từ quãng thời gian xưa cũ dẫn dắt người đọc đi đến hiện tại bằng lối mở biên độ tự nhiên, câu chữ đôn hậu và cốt truyện thật như đời.

Khi đã xác tín một lối riêng đó, Cao Thanh Mai bắt đầu hăng say hơn với nghề viết. Cho đến bây giờ chị đã in 6 tập cá nhân: "Trầu không xanh lá" (NXB Hội Nhà văn - 2015), "Chim cánh cụt biết bay" (NXB Văn học, 2018), "Biển về bên sông" (NXB Hội Nhà văn- 2018). "Về miền xa lắc" (NXB Quân đội nhân dân - 2022), "Tự tình với quê" (NXB Hồng Đức - 2023), và "Ngày ấy chưa xa" (NXB Hồng Đức - 2024).

Quả thật, từ ấn tượng với "Trầu không xanh lá" mà mãi đến năm 2020 tôi mới có dịp gặp chị trong một buổi ra mắt sách của cây bút trẻ Phát Dương, người cũng vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam vừa qua. Ngồi cùng nhau trong một sáng trời Cần Thơ dịu nắng, tôi bắt gặp một Cao Thanh Mai ít nói, hay cười và thường là ngồi lặng lẽ quan sát mọi thứ đang diễn ra. Thoảng khi chị mới góp lời trong câu chuyện, nhưng phần lớn là những câu hỏi mang tính xác thực, bởi có nhiều điều như chị nói, chị không biết.

Rời bục giảng, chị nghỉ hưu, cũng là phần lớn thời gian chăm sóc gia đình, dành cho căn nhà ấm áp cùng người chồng bác sĩ cũng mang quân hàm Đại tá. Hoặc chị dành những chuyến đi thăm lại bạn bè, đồng đội, hay các cựu chiến binh của chiến trường Tây Nam khốc liệt ngày đó. Rồi phần thời gian ít ỏi sót lại của riêng mình, chị sống cạn cùng với văn chương.

Cao Thanh Mai: Lời châu thổ trổ xanh chín nhánh -0
Nhà văn Cao Thanh Mai.

Phần lớn các nhân vật của chị là người lính ra đi và trở về trong cuộc chiến vùng biên giới Tây Nam ngày ấy. Hoặc có khác chăng, cũng là những mảnh đời hay số phận mà gốc tích câu chuyện khởi phát từ những nỗi vui lẫn niềm đau dính dáng đến cuộc chiến đó.

Có lẽ, nghiệp áo xanh vận luôn vào câu chữ của chị, nên khi viết về chuyện những người anh hùng nhuốm máu đỏ để phù sa bồi chín nhánh sông trổ xanh những an lành ngày nay, luôn là những câu chuyện đời nhất, đau nhất và toát lên khí phách kiên cường bất khuất nhất của một thế hệ quyết tử để bảo vệ bờ cõi đất nước.

Đôi lần khi đọc tác phẩm của chị, tôi ngờ ngợ câu chữ đó như một quãng đời mà chính chị đã trải qua. Bởi nó thật đến một cách quặn thắt tim mình. Có lần tôi bạo dạn hỏi thử, qua điện thoại chị ngập ngừng đôi chút rồi xác tín một đoạn đời in hằn ký ức của chính mình.

Năm tuổi đã chứng kiến cảnh ba mình bị tra tấn chết đi sống lại trước sân nhà. Chị kể lại bằng kí ức của những ngày tao loạn đầy ám ảnh. Lời kể đau đáu ấy thế nhưng lại mang đến cho độc giả một sự xanh lành của tấm lòng thảo thơm vị tha. Cuộc chiến đi qua, điều còn lại chính là sự sống. Sống như loài cỏ nát vẫn sinh sôi qua bao bận nắng nôi dập bầm. Sống để thấy đời vẫn xanh và lòng người vẫn rộng.

Trong tản văn "Kí ức tháng tư" của chị mà tôi từng đọc, chị mang đến một câu chuyện của ba, nhưng mở ra cho độc giả chân trời của đời người, ở đó giữa biển rộng bao la giao thoa cùng trời mây, con người nhỏ nhoi như một cá thể giữa trùng vây phong ba. Ấy vậy, chỉ cần lòng mình đủ an tĩnh thì chân trời trong mình tự khắc cũng soi chiếu cho mình hướng đi.

Dường như sâu thẳm trong tản văn của mình, Cao Thanh Mai lấy chính niềm đau mà soi sáng đường trần chính mình. Gót mỏi phiêu linh nơi đâu thì chân trời của bất cứ ai cũng chính là quê hương, là chân lý sống đời tử tế, trên hết vẫn là tấm lòng giữa người và người. Người với người giản đơn như phù sa với chín nhánh sông. Cứ thương nhau mà sống.

Cánh mai vàng của làng văn Cần Thơ

Có lần ngồi cùng các anh chị bạn bè văn chương Cần Thơ, tôi gọi đùa Cao Thanh Mai là cánh mai vàng của làng văn Cần Thơ, vì chị hay chọn dịp cuối năm để ra sách. Như lần này, tập truyện ngắn "Ngày ấy chưa xa" một lần nữa cho thấy nữ Thượng tá cần mẫn với con đường văn chương của mình. Với 14 truyện ngắn và gần 250 trang sách, Cao Thanh Mai như rót vào lòng độc giả những bồi hồi của hai chữ thân phận trong biển dâu cuộc người. Những thân phận chọn màu xanh áo lính làm nghĩa cử để sống, để chiến đấu và kí thác đời mình với sóng nước châu thổ Cửu Long này.

Cao Thanh Mai: Lời châu thổ trổ xanh chín nhánh -1
Một tác phẩm của nhà văn Cao Thanh Mai.

Từng nhân vật hiện lên có lớp lang, bài bản và khắc họa được một đời sống của thời tao loạn đầy cuốn hút. Dẫu giọng văn của chị vẫn hiền lành, man mác buồn, và ràn rạt đau và miên miết tâm tư. Nhưng, khác chăng là một sự vượt thoát hơn ở cách chị chọn đặt tựa truyện. Một sự chắt chiu đầy dụng ý, gợi lên những xúc cảm ngay từ ban đầu với độc giả như: "Dưới bóng cây thốt nốt", "Bìm bịp kêu chiều trong giấc mơ xưa", "Ngày ấy chưa xa", "Vầng trăng gửi lại chiến trường". Hoặc có khi là sự rút tỉa mang đầy tính triết luận mà phải đi qua quãng đời gieo neo dâu bể người ta mới thấu ngộ được: "Một góc sân đời", "Chuyến xe bến cuối", "Điều kỳ diệu có thể xảy ra".

Trong phần lớn các câu chuyện ở thời kỳ các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế hỗ trợ Campuchia chống lại chế độ diệt chủng Pôn Pốt, Cao Thanh Mai đã khéo léo dựng lại các câu chuyện theo cách đan xen quá khứ và thực tại bằng lối viết truyện lồng truyện. Ở đó biên độ thời gian và không gian giãn nở ra tối đa, tạo cho người viết tha hồ tung tẩy câu chữ, tình tiết, lẫn những trường đoạn kể về cuộc chiến. Nhất là cách miêu tả không khí cuộc chiến đầy ám gợi đau đớn ấn tượng. Nhưng, tận cùng của bi thương lại hóa nên sự kiên cường để phụng hiến sức lực cho sự sống cao cả.

Kết truyện của Cao Thanh Mai luôn thắp lên những ánh lửa của niềm tin và hy vọng sống; của những cuộc gặp gỡ hai thế hệ trong và sau cuộc chiến; của những con người đã đi qua cuộc chiến và một thế hệ sinh ra sau cuộc chiến. Như chính truyện ngắn mà tôi thích nhất "Dạ thưa em ở miền Tây", đúng điệu một cách sống, cách nói, nếp nghĩ, lẫn sự buông bỏ những đớn đau để hướng về một ngày mai tươi sáng.

Tôi nhớ, hôm ra mắt tập truyện "Ngày ấy chưa xa", nhà thơ Trúc Linh Lan - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Cần Thơ đã xúc động chia sẻ: "Nhà văn Cao Thanh Mai qua ngòi bút của mình với trái tim yêu thương chị đã ghép những mảnh lát ấy thành bức tranh đầy tính hiện thực, giàu tính nhân văn. Cách sử dụng ngôn ngữ địa phương khá thành công hấp dẫn được người đọc. "Ngày ấy chưa xa", cũng làm tôi nhớ về những học trò tôi, có em đã nằm lại chiến trường K mãi mãi không về từ một mùa hè. Tôi tin những tác phẩm tiếp theo của chị sẽ bật lên những điểm sáng làm chói mắt bạn đọc và đau ở trái tim".

Riêng cá nhân tôi, khi chọn đọc tập truyện ngắn này vào những ngày xuân đang tưng bừng ngoài kia, chính những câu chuyện này khiến tôi suy ngẫm về hai chữ: Hòa bình. Hòa bình có đẹp không? Kỳ thực, rất đẹp. Đẹp từ những câu chuyện mà tôi được đọc trong tập sách của một nữ Thượng tá. Tập sách gói trọn lời yêu thương với quê hương bản xứ mà chị đã gắn bó cả quãng đời người.

Miệt gạo trắng nước trong long đong từ thời chiến đi qua thời bình, nay ngồi lại với miền kí ức, chị như con tằm rút ruột giăng tơ. Từng sợi tơ mỏng mảnh ấy chính là từng lời đau đáu dành cho xứ quê miệt vườn của mình. "Cuống rốn mình chôn ở đâu mình thuộc về nơi đó". Tôi nhớ trong một tản văn chị đã viết câu này, như một lời rưng rức của người phụ nữ gieo neo dâu bể với phù sa sóng nước chín nhánh sông kí thác lại, ngõ hầu độc giả những chuyện vụn vặt của đất và người xứ này. Vụn đó, nhưng đầy nỗi niềm.

Tống Phước Bảo

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).