Cao hơn một bài thơ

Thực ra, chưa một bài thơ nào “hay”, “lớn” hoặc “cao” hơn cuộc sống. Chỉ là, cuộc sống không tự nói ra được nên phải “nhờ” các nhà thơ nói giúp một phần thôi!

CHỊ TÔI

(Kính tặng chị Xa - vợ của liệt sĩ Đỗ Trung Cẩn)

Anh tôi đi mãi không về
Không ai giải được lời thề chị tôi
Chị tôi giờ hết duyên rồi
Bao năm chỉ thấy gió giời trên cao
Bao năm chỉ những ra vào
Bao năm sáo chả lần nào sang sông
Đợi anh đâu thấy vân mồng
Thôi còn biết gửi tơ lòng vào ai
Khi giăng lặn lúc sương mai
Một mình một ngõ lấy ai chuyện trò
Vàng xanh như cỏ đầu bờ
Cỏ còn đợi nước, chị chờ gì đâu?
Sông sâu mà giếng cũng sâu
Cau già đã đốn, giàn giầu đã khô
Rèm thưa trúc sót đung đưa
Trúc rơi từng đốt, người chưa gặp người
Chị tôi giờ hết duyên rồi
Gốc hồng cũng chẳng được ngồi hái hoa
Năm đi qua, tháng đi qua
Chị trôi trong ấy như là trong mơ
Đời người thế cũng xong ư?
Đầu xanh mà đã ba thu một ngày.

Nói chi đến chuyện hao gầy
Chị tôi đã chết từ ngày anh đi!

image001.png -0
“Uống nước nhớ nguồn” là đạo lý muôn đời của bao người dân đất Việt.

Thưa các bạn!

Sau khi đọc bài thơ này của tôi, nhiều bạn đã gửi đến tôi lòng cảm thán và bao sự xót thương! Nhiều bạn khen bài thơ rất hay! Tôi xin cảm tạ!

Nhưng thực ra, chưa một bài thơ nào “hay”, “lớn” hoặc “cao” hơn cuộc sống. Chỉ là, cuộc sống không tự nói ra được nên phải “nhờ” các nhà thơ nói giúp một phần thôi!

Để tôi kể nốt chuyện quanh bài thơ của tôi cho các bạn nghe nhé!

*

Trước khi anh tôi nhập ngũ và đi chiến trường (1965), anh chị tôi đã có một cháu gái. Cháu tên là Hồng Vân - “Mây Hồng”. “Mây Hồng” được sinh ra ở trạm xá xã nhà (xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội). Không biết do giời hay do y học thời ấy kém, mà cháu tím bầm và bất tỉnh, khi cô Sa phăm (bà đỡ) đang tắm sơ sinh! Đem gấp qua sông Đáy, sang Bệnh viện Vân Đình (Lá cờ đầu của ngành y tế miền Bắc lúc đó), cháu được làm sống lại. Nhưng hỡi ôi! Từ đó, cháu chỉ còn biết cười. Cháu không biết nói, không biết ngồi, không biết đi suốt 21 năm cháu sống ở trên đời! Năm 1982 cháu mất!

21 năm ấy, “Mây Hồng” chưa một ngày được làm người lành lặn! 21 năm ấy, chị tôi chưa được một ngày làm người mẹ hạnh phúc! 21 năm ấy, nước mắt chị tôi đong bằng gì đây? Là út, tôi học đại học rồi cũng nhập ngũ nốt (1972). Trước đó, bốn anh tôi đều đã nhập ngũ, anh cả tôi đi từ thời chống Pháp.

Cha mẹ tôi ngày một già yếu. Chị tôi xin phép ra ở riêng cùng cháu “Mây Hồng”. Mọi người giúp chị cất một căn nhà nhỏ, cách căn nhà cũ của chúng tôi chỉ vài ba mảnh vườn - chị vẫn dễ về thăm cha mẹ tôi và ngược lại, cha mẹ tôi cũng dễ qua thăm chị và cháu.

Một lần tôi về phép, nghe làng xóm mách rằng, có một người làng, đã có vợ con, gần đây hay đến nhà chị tôi “nhiều hơn bình thường”. Lại còn mách rõ, tối nay, ông ta sẽ tới nhà chị tôi!

image003.png -0
Trải qua các cuộc chiến chinh, trên đất nước mình lại thêm bao đá Vọng Phu.

Chập tối hôm ấy, mặc bộ quân phục Tô Châu, đeo gọn chiếc xanh tuya rông lính với con dao găm Hung ga ry bên người, tôi lặng lẽ ẩn trong vườn dong giềng sau nhà chị tôi. Giận dữ, đau đớn ngập người! May mà tối hôm ấy, ông ta không tới.

Hết phép, tôi lạy cha mẹ, trở về đơn vị. Cha tôi đi cùng tôi ra cổng. Người cầm tay tôi và khẽ khàng :

- Từ nay, đừng làm thế! Có giời, có Phật, có người, con ạ!

Hóa ra cha tôi biết hết! Tôi chỉ còn biết “Vâng!” trong nước mắt và chạy đi.

*

Rồi một ngày, chị tôi đưa con trai mình lên nhà chúng tôi. Cha tôi ngồi trên sập, trước ban thờ. Mẹ tôi ngồi trên chiếc ghế tựa bên sập. Chị tôi quỳ xuống và thưa trong nước mắt :

- Ông bà ơi! Con thì coi như bỏ đi rồi. Con chỉ xin ông bà cho cháu mang họ Đỗ Trung!

Cả nhà đứng lặng ngắt. Rồi cha tôi cất lời:

- Đứng lên con! Còn ai khổ hơn con nữa! Ừ, cháu nó mang họ ta!

Từ đó, hai nhà lại là một. Cháu Đỗ Trung Quyết của chị tôi lớn lên, hiếu thảo, mạnh mẽ, hiểu lẽ phải. Cháu cùng mẹ luôn hương khói trên ban thờ liệt sĩ Đỗ Trung Cẩn mà cháu coi như cha đẻ. Cháu chăm sóc chị tôi hết sức chu đáo, cho đến khi chị tôi mất. Cháu cũng luôn hương khói và chăm sóc phần mộ cho chị “Mây Hồng” của cháu. Anh chị em tôi cũng đến UBND xã, làm văn bản, đề nghị xã chứng nhận, cháu Đỗ Trung Quyết là con trai của liệt sĩ Đỗ Trung Cẩn, chính danh. Giờ vẫn thế và mãi mãi là thế.

*

Thưa các bạn !

Đó là “vĩ thanh” của bài thơ “Chị tôi” ở trên. Cho nên, tôi mới nói rằng, chả có bài thơ nào “hay”, “cao”, “lớn” hơn cuộc sống. Và, bài học mà tôi học được từ cha mẹ tôi, từ cuộc sống, chắc chắn không phải là “độc nhất vô nhị”, nhưng cũng khó tìm thấy trong trường học.

Cảm ơn các bạn đã bỏ thì giờ nghe câu chuyện của tôi.

Đỗ Trung Lai

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.