Cái tai… nghe rất nhiều chuyện

Dân gian gọi những người có địa vị quyền hành là loại “tai to mặt lớn”. Ghét những kẻ xỏ xiên đểu cáng thì gọi là loại “mặt dơi tai chuột”. Lại có câu nói nhỏ với nhau phải ăn nói cẩn thận kẻo có “tai mắt” của ai đó, thì khổ.

Lại có câu “Mũ ni che tai” nói một về thái độ bàng quan. Xuất xứ câu này là từ một ngụ ngôn kể đôi chim sẻ nọ làm tổ trong tai nhà sư. Nhà sư mặc kệ vì nếu đuổi hoặc giết chúng thì mắc tội. Nhưng chim mẹ đẻ chim con rồi cãi chửi nhau tùm lum. Bất đắc dĩ nhà sư phải khâu cái mũ vải có diềm rộng che cả tai và gáy, đợi cả nhà chim đi kiếm ăn mà đội vào (?!). 

Đồng nghĩa với thành ngữ này là “Đắp tai gài trốc” (“trốc” là đầu). Trong bài thơ “Mẹ Mốc” Nguyễn Khuyến có câu: “Đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ” tả nhân vật nhưng để nói mình “ngoảnh mặt” với cuộc đời nhiễu nhương!

Một đặc điểm đậm tính biểu trưng của tai Phật là vừa to vừa dài. Tai có chức năng để nghe. Nhà thơ Huy Cận vẫn nói hay và đúng nhất về điều này trong bài thơ xứng đáng là kiệt tác “Các vị La Hán chùa Tây Phương”: “Có vị chân tay co xếp lại/ Tròn xoe tựa thể chiếc thai non/ Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối/ Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn.../ Các vị ngồi đây trong lặng yên/ Mà nghe giông bão nổ trăm miền”. Như vậy tai “rộng dài ngang gối” để mà “nghe đủ chuyện buồn”, “nghe giông bão nổ trăm miền”. Đây là cái lý căn bản để làm tiền đề cho mô hình tượng Phật nghìn mắt nghìn tay. Tai to để nghe thấu nghe đủ mọi chuyện buồn của nhân gian. Có nghìn mắt để nhìn tỏ nỗi đau của con người. Có nghìn tay để cứu vớt nỗi trầm luân của chúng sinh trong bể khổ...

Nhạc trưởng thiên tài Lorin Maazel (1930 - 2014) người Mỹ.
Nhạc trưởng thiên tài Lorin Maazel (1930 - 2014) người Mỹ.

Nhưng đấy chỉ là cách hiểu bề ngoài. Chắc hẳn còn chứa đựng nhiều điều sâu xa khác! 

Tư Mã Thiên nhà viết sử thiên tài, trong “Sử ký” khi nói về Lão Tử có giải thích rõ “Lão Tử họ Lí, tên Nhĩ, tự là Đam”. Chữ “Nhĩ” mà Tư Mã Thiên viết có nghĩa là “tai” đi liền với chữ “Đam” có nghĩa là “tai dài”. Hậu thế vẫn gọi Lão Tử là Lão Đam là vừa gắn với chiết tự nói về một đặc điểm ngoại hình (tai dài) vừa gắn với huyền thoại Lão Tử sống rất thọ. Vì theo dân gian thì những người tai dài thường trường thọ. Dựa vào căn cứ nào? Điều này lại có mối liên hệ với một tập quán cổ xưa, tận thời nguyên thủy, dân gian quan niệm tai là cửa sổ nối con người với thế giới thần linh. Chung quanh vấn đề này có hai giả thuyết. 

Một là, qua sự quan sát lâu dài người ta thấy rằng tai là bộ phận duy nhất trên khuôn mặt vẫn tiếp tục phát triển trong cuộc đời một con người. Có người thời trẻ tai nhỏ nhưng về già thì to ra và dày hơn. Người ta nghiệm ra rằng những người tai to và dày thường là những bậc phú quý. Từ đó tai được coi là biểu tượng của sự giàu có, địa vị (?!).

Hai là người nguyên thủy phát hiện ra tai là một “đường đi” của nhiều căn bệnh truyền vào bên trong cơ thể. Để ngăn chặn các tà khí ấy người ta đeo khuyên/vòng tai bằng kim loại, gỗ, ngọc, kim cương... thậm chí bằng cỏ. Về sau, qua kinh nghiệm con người thấy đeo nhẫn/vòng/khuyên tai bằng bạc là tốt nhất. Cái này tương tự với việc đeo nhẫn bạc ở ngón áp út, tay trái (vì có mao mạch chạy thẳng tới tim) chống lại cảm lạnh, cảm gió rất công hiệu. Nhưng gần đây, thuyết phong thủy phát triển cho biết không phải ai đeo cũng tốt, mà tùy người. Ví như người ở cung mệnh kỵ/tương khắc với hành kim thì đeo nhẫn/vòng/khuyên bằng kim loại không tốt, mà phải đổi là ngọc, kim cương hoặc gỗ... 

Cố nhiên, trong lịch sử văn hóa nhân loại, từ xưa và đến tận nay, việc đeo vòng/khuyên tai chủ yếu vì mục đích thẩm mỹ. Phụ nữ là biểu tượng của cái đẹp nên họ trang sức nhiều hơn đàn ông là đúng quy luật. Còn cả chức năng bảo vệ nữa. Nhiều bộ tộc/lạc quan niệm ma quỷ đi theo con đường vành tai mà vào bên trong để bắt hồn bắt vía nên đeo vòng/khuyên tai là một cách để ngăn chặn chúng. 

Ở phương Tây thời trung cổ hành động cắt tai tù binh rồi gửi cho đối phương là cách khiêu khích, khiêu chiến, nhục mạ. Ở phương Đông trung đại cũng tương tự nhưng còn thêm hành vi dã man là cắt tai tình địch. Nếu bắt được trai có vợ gái có chồng mà lại trong tình trạng “trai trên gái dưới” thì người đàn bà sẽ bị gọt đầu bôi vôi rồi thả bè trôi sông với cái ý cho biệt tăm tích cái giống lăng loàn... Còn người đàn ông thì bị xẻo tai với cái ý vì “rót mật vào tai nhau” mà quyến rũ nhau nên phải làm thế để “bêu gương”!!!

Trong bộ tiểu thuyết “Tây du ký” nổi tiếng có hình tượng Cây gậy Như Ý của Tôn Ngộ Không có hai đầu bịt vàng, nặng một vạn ba ngàn năm trăm cân có thể to nhỏ dài ngắn theo ý chủ, khi to nhất làm cột chống trời, lúc nhỏ nhất chỉ bằng cái kim luôn được giắt ở tai. Lý do là vì ngũ quan trên mặt người tương ứng với ngũ hành, tai thuộc hành thuỷ (mắt là mộc, lưỡi là hỏa, miệng là thổ, mũi là kim). Cây gậy này vốn ở dưới nước là vật sở hữu của vua biển Long vương! Nó nguyên có tên là Định Hải Thần Châm, vật báu của long cung. Hết đại náo thiên cung rồi đến đại náo long cung, Ngộ Không ép Long Vương phải giao cho mình sở hữu. Từ đó Ngộ Không luôn giắt ở tai là đúng với “ngũ hành”!

Nhưng chắc chắn một điều rằng những nhà giàu có, địa vị cao sang, quyền to chức lớn ngày trước (qua chứng tích khảo cổ, hội họa, văn chương...) thì luôn đeo hoa tai, đeo vòng cổ... bằng kim loại quý (đến nay vẫn thế nhưng có sự phân biệt và quy định của tập quán). Người ta còn tìm thấy tranh Đức Phật khi chưa thành Phật đeo rất nhiều vàng (vì Ngài là một hoàng tử giàu có, sang trọng). Không loại trừ lý do, vì đeo nhiều vàng nên tai Ngài to ra, sệ xuống, không “rộng dài ngang gối” như trong thơ Huy Cận nhưng chắc là to dài hơn người thường. Khi thành Đức Phật được thiêng hóa nên yếu tố “tai” tự nhiên là một hình tượng trung tâm!?

Cảnh vua Midas phân xử!

Cảnh vua Midas phân xử!

Y học cổ truyền phương Đông lấy thuyết ngũ hành làm cơ sở, trong đó bộ môn châm cứu là rất tiêu biểu với phương pháp “Nhĩ châm” tức châm huyệt ở tai. Theo các sách châm cứu, đại để là khi một bộ phận cơ thể không bình thường, bị tổn thương thì huyệt tương ứng trên loa tai cũng thay đổi theo, như nhạy cảm hơn, đổi màu da, mạch máu, sần sùi hơn, xuất hiện các nốt, các gờ… Thầy thuốc tùy theo sở trường và bệnh nhân mà vận dụng thuyết tạng phủ hay kinh lạc mà dùng thủ thuật châm giúp điều hòa các chức năng rối loạn, điều chỉnh hoạt động của các bộ phận!

Dĩ nhiên cái tai quý nhất với những người trong ngành nghệ thuật âm nhạc. Người nhạc trưởng bao giờ cũng được ưu ái kính trọng gấp nhiều lần nhạc công, vì từ cổ xưa văn hóa Hy Lạp đã quan niệm “Nhạc trưởng tài năng nhất là những người nghe nhạc giỏi nhất”. 

Lịch sử âm nhạc thế giới trân trọng ghi danh người nhạc trưởng vĩ đại Pherekydes (người Hy Lạp) từ năm 709 TCN đã phát minh một cây gậy bằng vàng để chỉ huy dàn hợp xướng 800 nhạc công. Tương truyền ông thẩm âm cực giỏi và cũng cực khó tính, chỉ cần một người đi sai một nốt nhạc là ông bắt chơi lại từ đầu. Hình như là để minh họa cho luận đề cái tai quyết định trong nghệ thuật âm nhạc mà thần thoại Hy Lạp có câu chuyện tai lừa của vua Midas. Ý nghĩa phổ quát của nó còn để lại bài học về sự phán xử (như trọng tài bóng đá ngày nay) rất dễ gặp tai họa. 

Số là vua Midas thông minh tài giỏi có công đưa đất nước Hy Lạp trở nên hùng cường, thịnh trị. Có lẽ quá tự tin nên vua nhận lời xử vụ tranh cãi ai giỏi hơn ai giữa hai vị thần. Vua xử cho thần Pan – thần của sáo trúc đồng quê thắng. Thần Apollon - thần của ánh sáng và âm nhạc tức mình vì thua cuộc bèn kéo tai của vua Midas dài ra và tức tối nói: Ngươi có một đôi tai lừa! Ý thần này là mỉa mai vua Midas “ngu như lừa” chẳng biết thẩm âm gì cả nên phải có đôi tai lừa là “xứng đáng”. Thần đã vật hóa một vị vua. Tương tự, người Việt sâu sắc chỉ có 4 chữ “Đàn gẩy tai trâu”, một tương phản gay gắt để làm bật ra nguyên lý: sự tiếp nhận phải tương ứng với chủ thể sáng tạo!

Thế giới hôm nay coi một biểu hiện của khoan dung hòa giải văn hóa là biết lắng nghe nhau. Thực ra chuyện này đã được người xưa thâm thúy nói trong câu chuyện về loài người cùng nhau xây một trụ trời để được lên giời. Thượng đế hoảng sợ bèn cho mỗi cộng đồng một tiếng nói riêng thành ra con người không hiểu được nhau vì ai nói người nấy nghe, có nghe cũng chả hiểu vì “tai nọ xọ tai kia”, việc lên trời vì thế mà bất thành!!!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).