Cái sân - Một mảnh hồn Việt!

“Truyện Kiều” của Cụ Nguyễn Du kết tinh văn hóa Việt, điều này đúng ở cả phương diện ngôn từ. Chỉ một đơn vị chữ “sân” mà được nhắc tới 23 lần, một trong những hình tượng xuất hiện nhiều nhất. Đối chiếu với “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân thì hầu như nó vắng bóng.

Với gia đình người Việt xưa thì sân là mảnh đất thường ở trước nhà là không thể thiếu. Nó được nâng lên thành không gian văn hóa tinh thần, gần gũi, thiêng liêng chẳng khác gì sân đình của làng vậy. Hơn ai hết, Nguyễn Du đã kiến tạo cái mảnh sân theo nguyên tắc này.

Gia đình Vương Ông “thường thường bậc trung” cũng có sân giống bất kỳ nhà nào: “Gương nga vằng vặc đầy song/ Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân”. Hình tượng được thẩm mỹ hóa trở thành “sân hoa”: “Song song vào trước sân hoa lạy quỳ”; “Cúi đầu quỳ trước sân hoa”. Là “sân mai” - sân trồng cây hoa mai: “Cúi đầu, nép xuống sân mai một chiều”. Là “sân đào” - sân trồng cây đào: “Sinh thì dạo gót sân đào vội ra”. Là “sân ngô” - sân trồng cây ngô đồng: “Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng”. Là “sân quế hòe”: “Một cây cù mộc, một sân quế hòe”. Còn là “sân mây”: “Tạ lòng, lạy trước sân mây”...

image001.png -0
Sân quê!

Cái sân được linh hồn hóa, nhìn sân mà biết cảnh biết người: “Sân rêu chẳng vẽ dấu giày/ Cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân”. Cảnh này cho thấy sự vắng vẻ, hoang tàn. Chủ nhân đang lênh đênh trôi nổi đâu đó. Cái sân được điển cố hóa để nói về chiều sâu văn hóa hình tượng: “Sân Lai cách mấy nắng mưa/ Có khi gốc tử đã vừa người ôm”. Câu thơ mượn điển cố Lão Lai tử thời Xuân Thu nổi tiếng là người hiếu thảo, đã 70 tuổi còn giả trẻ con vui chơi, nhảy múa, còn làm trò vờ ngã để bố mẹ vui. “Chẳng sân Ngọc bội thì phường Kim môn”. Sách “Lễ ký” viết đại ý kẻ sĩ thường đeo đồ trang sức bằng ngọc, dần dần hình thành quan niệm ví phẩm chất đức người quân tử quý như ngọc (Ngọc bội). “Phường Kim môn” chỉ những người tài. Kiều khen Kim Trọng: “Nàng rằng: Trộm liếc dung quang/ Chẳng sân Ngọc bội thì phường Kim môn” chứng tỏ Kiều không chỉ có vốn văn hóa dày dặn mà còn có lối ứng xử tinh tế, khen cũng tinh tế!...

Nhắc lại như vậy để rút ra bài học: nghệ sĩ có sứ mệnh kiến tạo những biểu tượng mới, do vậy phải hiểu sâu các mã văn hóa dân tộc và nhân loại. Vì như một điều tất nhiên, nghệ thuật bao giờ cũng tuân theo quy luật kế thừa, phát triển, nâng cao từ truyền thống!

Nói thế cũng để thấy cái mảnh sân quen thuộc là một biểu tượng cơ bản của văn hóa Việt!

Cái đình của mọi làng ngày xưa mang ý nghĩa tâm linh (“Toét mắt là tại hướng đình”) nên thiêng liêng lắm. Là trung tâm hành chính nơi bàn bạc, hội họp; là trung tâm văn hóa, mọi việc đều diễn ra ở đình, từ thể thao, hát xướng, văn nghệ đến lễ hội; là trung tâm tôn giáo tín ngưỡng (thờ Thánh, thờ Thành hoàng). Bao giờ cũng vậy, trước khi vào tế lễ, hội họp trong đình, người ta phải qua sân đình, gặp gỡ, chào hỏi, bàn bạc, chuẩn bị... Thế nên bất cứ ngôi đình nào cũng có sân đình là vậy. Với trẻ em và thanh niên thì sân đình quan trọng hơn nhiều. Bất cứ trò chơi nào cũng diễn ra ở đây. Nhiều cuộc tỏ tình ở gốc đa sân đình... Nó trở thành nơi chốn thần tiên nhất, tự nhiên là nơi ký thác tình cảm đi sâu vào ký ức tâm hồn: “Qua đình ngả nón trông đình/ Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”. Là nơi trao gởi, giãi bày: “Đêm qua tát nước đầu đình...”.

Vì thuộc nền văn minh lúa nước nên mảnh sân gắn liền với nông dân. Gặt lúa về có chỗ để tuốt, đập, trục lúa. Tách ra được những hạt thóc vàng, có sân để phơi phóng, để sàng sẩy. Góc sân có chỗ chất đống rơm, đống rạ, thế là thành chỗ lý tưởng cho trẻ con chơi trò trốn tìm...

Trước 1975 rất ít gia đình nông dân có sân gạch, còn hầu hết là sân đất. Ngày xưa sân gạch càng hiếm. Ngay gia đình Vương Ông trong “Truyện Kiều” cũng chỉ có sân đất: “Sân rêu chẳng vẽ dấu giày”, “Một sân đất cỏ dầm mưa”. Sân đất nhưng được đầm kỹ, làm phẳng nên trở thành không gian gắn liền với đời người, là nơi thể hiện mọi sinh hoạt. Sau những ngày nồm ẩm, trời chợt hửng nắng, sân đã khô ráo, thế là nhà giàu nhà nghèo lộ ra hết. Người ta đem ra phơi đủ thứ những gì là tài sản của một gia đình tiểu nông. Một góc phơi thóc, một chỗ phơi lạc, đậu, vừng... Ngoài bờ giậu vắt vẻo đủ thứ quần áo mới cũ. Trên dây phơi vắt ngang sân khoe đủ thứ rèm gió, rèm cửa, màn, chăn, chiếu...

Sân còn là không gian văn hóa tâm linh. Nhiều gia đình lập bàn thờ ngoài sân, thờ Phật và các vị thần bảo hộ độ trì cho đời sống mạnh khỏe, ăn nên làm ra. Nhiều lễ bái, cầu vọng, giỗ chạp... những ngày cuối năm, đầu năm cũng tổ chức ngoài sân. Tất nhiên ngày cưới cũng làm rạp mời hàng xóm chia vui ở sân. Nhà nào có người già về với tổ tiên, trước khi về trời cũng “lưu luyến” ở sân một khoảng thời gian...

Những ý nghĩa này mang đậm bản sắc Việt gắn liền với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lao động sản xuất, nhất là với khí hậu, thời tiết nóng ẩm!

“Thiêng liêng, thiêng liêng hai tiếng gia đình” (lời một bài hát), hiểu theo nghĩa Hán Việt thì “gia” là nhà, “đình” là cái sân. Đúng là “gia đình” thiêng liêng thật. Cái nhà thiêng liêng. Cái sân thiêng liêng!!!

image003-1634231285522.png
Góc sân và khoảng trời!

Cái sân mở rộng nghĩa chỉ khoảng không gian trước mặt của mọi kiểu nhà. Sân trước nhà của vua thì là “sân rồng”, có khi gọi là “sân chầu” là nơi để các quan quỳ lạy hoàng gia, cũng là nơi để nghe vua phán truyền. Là nơi đón sứ giả trước khi vào nội cung... Vì là “bộ mặt” của quốc gia nên cái không gian này rất quan trọng, nó thể hiện tính uy nghiêm của pháp luật, tính thiêng liêng cao cả của vương triều... Thế nên tính châm biếm trong “Hoàng Lê nhất thống chí” càng sâu cay thâm thúy hơn khi tác giả đặt cuộc nổi loạn của đám kiêu binh ở ngay trên sân phủ Chúa Trịnh. Chưa bàn tới các nội dung chi tiết của “sự biến”, ngay việc miêu tả đám đông hỗn loạn trên “sân rồng” đã cho thấy sự thối ruỗng đến tận cùng của một chính thể!

Sân trước chùa gọi là “sân Phật đường”. “Truyện Kiều” có câu: “Khỏi rừng lau, đã tới sân Phật đường”. Nơi cửa Phật thường trồng hoa. Mãn Giác thiền sư trong bài “Cáo tật thị chúng” có câu tuyệt hay: “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (Đêm qua sân trước một nhành mai). Nếu dịch thơ là: “Đêm qua sân trước nở nhành mai” thì thừa động từ “nở” vì không chỉ phá vỡ tính cô đọng, hàm súc của thơ cổ (thơ thiền càng thế) mà còn làm mất đi tính “vô ngôn” của biểu tượng. Chiều sâu triết học của “nhất chi mai” càng rõ khi đặt hình tượng “nhất chi mai” vận động như hướng về ánh sáng trên “sân Phật” tĩnh tại hướng vào tâm. Thế đối lập của các “phạm trù” này làm bật ra ý nghĩa: sự sống là bất diệt!

Bất cứ ai đi học cũng đều lưu giữ khoảng không gian thơ ấu là sân trường xôn xao đầy kỷ niệm!

Là một biểu tượng văn hóa nên cái sân chiếm dung lượng không nhỏ trong không gian văn hóa hiện đại. Khi Pháp sang nước ta mới có đường tàu. Bài thơ “Những bóng người trên sân ga” của Nguyễn Bính kiến tạo một không gian văn hóa trước đó chưa hề có. Nhưng rất buồn “Những cuộc chia ly khởi từ đây/ Cây đàn sum họp đứt từng giây”. Bao cảnh chia ly diễn ra trên ga này. Bài thơ thấm sâu vào người đọc vì nó tạo ra cú “shock” văn hóa.

Ngày xưa cái sân là nơi gặp gỡ, vui vẻ, ấm áp thì nay cái sân là nơi chia ly, lạnh lẽo, buồn đau. Đến mức chia ly diễn ra trong một con người: “Chân bước hững hờ theo bóng lẻ/ Một mình làm cả cuộc chia ly”. Sau này, thời chống Mỹ, nhà thơ Lê Văn Vọng có bài “Chiều sân ga” như là một cách “đối thoại phản biện” lại với thơ Nguyễn Bính: “Về đi em/ Cho con tàu lăn bánh/ Sân ga chiều giá lạnh...”. Người vợ trẻ tiễn chồng ra trận hẳn nhiên là buồn. Sân ga cũng như buồn theo. Nhưng ra đi vì lý tưởng nên không hề yếu đuối: “Con tàu đi/ lại lao đi trong đêm/ những người lính bước vào trận mới/ những chiến sĩ mười tám, đôi mươi/ những chiến sĩ trẻ như ban mai/ chia tay/ để ngày mai trở lại...”. Đọc những câu thơ như thế người ta như thấy được cả cái háo hức của tâm thế lãng mạn ở một thời đại tràn trề tin tưởng, lạc quan vào ngày chiến thắng!

Tiểu thuyết “Cái sân gạch” của Đào Vũ mang rõ ý nghĩa biểu tượng. Không chỉ là cái sân nhà quê mà còn là tài sản, là cách sống, lối sống, là hướng đi lên chủ nghĩa xã hội của người nông dân. Trần Đăng Khoa có tên tập thơ rất hay “Góc sân và khoảng trời”. “Góc sân” ấy là cả thế giới thần tiên trẻ thơ cùng “khoảng trời” mơ ước thần tiên!

Cái sân tiếp tục được mở rộng theo nghĩa bóng: “lấn sân”, “sân chơi khu vực”, “sân chơi thế giới”...!!!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).