Cái chết của một con đò

Đêm. Mưa, trận mưa đầu mùa của một mùa hè chớm đến với tiếng sấm báo hiệu chuyển sang hè, với những tia chớp như những chùm pháo sáng lóe trên bầu trời xé rách những lùm cây tăm tối. Và gió, gió từ miền hoang vu nào đó hay từ thuở hồng hoang chưa bao giờ ngưng nghỉ chưa bao giờ ngừng thổi đã tới nơi đây, đã đến nơi đây cuồng phong cuộn nước sông Hồng chồm lên những ngọn sóng trắng như thác.

Và mưa, mưa xối xả, mưa gột tảy những ngón tay bàn tay cha in trên mái chèo. Mưa, sóng và gió chúng xúm lại, chụm lại xâu xé hành hạ con đò. Vô tâm quá cả ngày lo liệu việc đám không ai nhớ đến con Đò, không ai nhớ đến cái việc phải làm là cho nó một chiếc khăn trắng giúp nó để tang cha!

Con đò nó không phải chỉ là một con đò. Nó là con, nhân gian gọi nó - Con Đò, thân thương thế cơ mà. Vậy nên con đò đâu phải chỉ là đồ vật. Nó chính là người thân là ân nhân là thành viên trong gia đình tôi. Nó là anh là chị, là em của tôi. Cha tôi cũng chính là cha của nó, vậy tại sao trong lúc này, lúc cả nhà chúng tôi chịu chung một nỗi đau chúng tôi lại quên nó, bỏ rơi nó. Bao nhiêu năm con đò cùng cha chở biết bao nhiêu lượt khách qua sông.

Những năm xóm Đạo nằm trong vùng địch, đò giúp cha chở cán bộ Cách mạng bí mật đi qua bốt đồn Tây từ vùng tề sang vùng tự do, từ vùng tự do vào vùng địch hậu. Con Đò theo cha, phụng sự cha, làm lá chắn che gió cho cha, che mắt quân thù những khi cha lặn ngụp xuống lòng sông vùi những chiếc nón lá ngụy trang của các đồng chí Cách mạng để phi tang bằng chứng các đồng chí hoạt động cách mạng chuyển vùng. Đò ơi, mày gần cha hơn tao, mày hữu ích cho cha hơn tao.

Ngày miền Bắc được giải phóng, cha chợt nhớ cái ống tre cha cất giữ những cái giấy lưu bút, bút tích chứng nhận công lao của mày và cha do cán bộ Việt Minh viết tay dặn cha cất giấu cẩn thận đến ngày này đưa ra chính quyền làm bằng chứng để được công nhận Người có công với Cách mạng. Cái ống tre cha cất giấu kỹ quá và cũng lâu rồi cha quên cha bỏ rơi cha không để ý, những lần lũ lụt ngập mái nhà nó đã mủn nhuyễn thành phù sa mất rồi!

Cái chết của một con đò -0

 Vạn vật có hồn huống chi con đò chính tay cha làm nên. Cha đóng gỗ làm khung, cha ngâm tre chẻ lạt đan thuyền, cha giã lá gáo làm keo, cha quét lên nó một lớp nhựa đường để bảo vệ. Hình hài nó do cha, linh hồn nó do cha, ai có thể chắc chắn rằng mất người thân đồ vật không đau buồn?

 Ý nghĩ chỉ đạo tôi, cảm xúc ngự trị tôi, tôi bật dậy khỏi giường chạy ra bến sông tìm em.

Gió tàn nhẫn quất mưa vun vút vào mặt. Tôi cúi mặt tránh mưa, chạy thục mạng tới hết con đường lao thẳng xuống bến đò. Cái dốc xuống bến đò trắng nước mưa trơn, nguy hiểm quá tôi kìm chân dừng lại suýt ngã nhào.

Mưa. Mưa trên bãi, mưa trong làng, mưa đầm con đê vệ cỏ chảy theo đường mòn dồn đổ hết ra sông biến dốc đò thành con thác đổ.

Tôi đứng nhìn sông. Tôi đưa mắt tìm em. Trong đêm mưa dòng sông, bến sông thật xa lạ. Tôi rùng mình nhìn thấy em tôi. Sóng nước điên cuồng chồm lên đập xuống hành hình đứa em khốn khổ của tôi. Thiên nhiên man dại thiên nhiên độc ác vô tình.

Tôi chúi đầu toan lao theo dốc xuống lòng sông, kéo em lên hẳn trên đường cao nơi tôi đứng. Bàn tay vô hình của ai đó phía sau tôi túm áo tôi giật ngược lại làm tôi hụt chân ngã ngửa mặt lên trời. Gió ghé tai tôi, tiếng rất đanh và nhẹ.

Nhưng, Con Đò, nó là em tôi, di vật của cha tôi, phương tiện kiếm sống nuôi sống gia đình tôi, nó đang khổ đau dưới kia tôi không thể đứng đây nhìn. Con sông, mấy chục năm trời song hành cùng Đò cùng cha không ngờ giờ dở mặt độc ác hung dữ đến thế kia. Trời đất. Một con chó trung thành giàu ân nghĩa, chủ của nó tạ thế, nó đau buồn bỏ ăn không thiết sống. Cũng là con, con chó là sự sống thật có máu óc tim gan. Cũng được gọi là con, con đò em tôi máu, tim, mắt não vô hình. Đò ơi em là đồ vật. Đồ vật gắn bó với con người, ai bảo em không có hồn, ai bảo cha tôi mất em không đau buồn!

Tôi cẩn trọng đưa năm đầu móng chân bấm chặt mặt đất giữ toàn thân thăng bằng sau đó mới đặt hẳn bàn chân, du trọng lượng tới chân đó thật chắc chắn tôi mới bước tiếp chân kia. Và tương tự tôi bước tiếp những bước chân lặp đi lặp lại bước ban đầu. Mỗi bước sau kinh nghiệm hơn, tự tin hơn, chắc chắn hơn. Tôi kiên nhẫn xuống được với bến đò.

Mưa. Nước thượng nguồn ầm ào đổ về sông mỗi lúc một đầy nhấn chìm cái mỏ neo tàu thủy cha tôi dùng thay cái cọc cái sào buộc đò. Tôi dùng chân lần lần, dùng tay mò mò như mò ốc cũng không sờ thấy cái mỏ neo để cởi dây thừng kéo con đò lên cạn. Chúng tôi cách nhau chừng hai mét thôi nhưng đầy nguy hiểm. Tôi không biết bơi. Tôi có bám được vào con đò thì cả hai chúng tôi cũng không cứu được nhau.

Tôi bất lực. Con đò cũng bất lực như tôi. Chúng tôi mảnh mai như chiếc lá trước sự thét gào của gió, sự điên cuồng của sóng, sự bạo hành của mưa, sự bí ẩn của dòng sông nham hiểm. Em tôi nằm trên sông, ngửa mặt lên trời phó thác và hứng đựng tất cả. Còn tôi, tôi yêu thương em, tôi có sức mạnh của một con người, tôi đã làm được gì cho em, tôi làm gì được cho em lúc này trước vũ trụ bao la đang nổi hứng điên cuồng quật ngã tôi, muốn nuốt chửng chúng tôi.

Sông Hồng như một vệt biển đen hun hút uy quyền.

Tôi khóc gọi đò không thành tiếng. Người quê tôi bảo gọi đò trong đêm chính là gọi hồn ma. “Xin Chúa hãy đến với chúng con, xin Chúa che chở cho chúng con. Xin ôm chúng con vào lòng cho chúng con được bình an trong vòng tay của Chúa”.

Chúa nghe thấy tiếng tôi và Ngài đã đến với giọng nói rất đỗi dịu dàng “Có ta ở đây, con đừng sợ!”.

Lầm lụi và lặng lẽ một khối đen rất to, có lẽ là gốc rễ cây cổ thụ trên rừng thượng nguồn bị người ta cưa chặt lấy mất thân làm gỗ đang tiến đến gần. Tôi nghĩ đó là xác một con người, một tên thủy tặc. Tôi toan vượt con dốc bỏ chạy. Con dốc nhẵn lì. Xuống dốc đã khó, lên dốc trong mưa khó hơn nhiều. Đành chịu.

Lòng em tôi nặng một đò nước. Em thoi thóp hai mũi đò như hai cái sừng trâu nhấp nhô trên mặt sông.

Tôi hoảng loạn khua múa bàn chân trong nước mênh mang hy vọng tìm được sợi dây thừng nối đất và em nhanh nhanh kẻo muộn. Tôi lặn ngụp kiếm tìm. 

Gốc cây kiêu hãnh thượng nguồn lạnh lùng như một chiến hạm tàu ngầm lao thẳng vào em tôi, đâm thủng em tôi. Bộ khung em tôi siết chặt gốc cây, gốc cây nhùng nhằng giãy giụa.

Sự giằng giựt quật quã em tôi rã rời vỡ ra thành trăm mảnh.

Mưa. Mưa phủ trắng mặt sông một rừng bông huệ trắng. Những mảnh vỡ đò ngang ngỡ như đàn vịt trời hứng khởi an nhiên trên mặt sông. Chúa hóa kiếp em tôi thành sự sống. Chúa vẫn cho em tôi khoác trên mình một bộ lông màu đen màu thuở ban đầu cha làm nên em quét nên em!

Vịt trời giỏi bay, vịt trời giỏi bơi lội. Bầu trời mưa thả sáng xuống mặt sông. Nước sông ấm chân tôi. Mưa ấm cơ thể tôi. “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng…”. Câu hát của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn an ủi trái tim tôi tình yêu của tôi. Con đò em tôi, linh hồn cha tôi mãi mãi ở lại bến sông thương yêu này cùng tôi…

Lê Hồng Nguyên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).