Cá sấu - bơi giữa đôi bờ phàm thiêng!

Theo nhiều nghiên cứu thì biểu tượng rồng (châu Á, rõ hơn ở Việt Nam) là sự tổng hợp từ hình tượng cá sấu và rắn mà thành. Nếu vậy, biểu tượng cá sấu có trước cả biểu tượng rồng. Nhưng trong khi rồng bay lượn trong bầu trời văn hóa thì cá sấu vẫn chịu kiếp sống chui lủi nơi đầm lầy, bến sông… Vì sấu bị con người ghét.

Ngày xưa cá sấu nhiều vô kể, đến mức các cha mẹ cứ dọa con hư là ném xuống ao cho thuồng luồng... Nhiều người tin rằng thuồng luồng, hà bá, giao long… cũng chỉ là cá sấu. Nhiều cổ tích kể có những cô gái đẹp giặt giũ ở bờ sông bị thuồng luồng bắt, chắc là do cá sấu kéo xuống…

Truyền thuyết kể, vua Hùng Vương dạy ngư dân xăm hình thủy tộc lên người để khi xuống nước các loài thủy quái nhìn thấy ngỡ là chung một loài mà không bắt đi. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” còn chép: “Mùa thu năm Nhâm Ngọ 1282, khi quân Nguyên đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ 2; bấy giờ có cá sấu đến sông Hồng. Vua sai Thuyên làm văn ném xuống sông, cá sấu tự nhiên đi mất. Vua xem việc này giống như Hàn Dũ tế cá sấu năm 830 ở Triều Châu (Trung Quốc) bèn cho đổi họ là Hàn Thuyên”. Những chi tiết ấy cho thấy ngày xưa cá sấu là nỗi sợ hãi của con người.

image001.jpg -0
Một biểu tượng Makara có nhiều ở Thái Lan.

Cuối những năm 80 ở thế kỷ trước những người lính chúng tôi tập luyện bơi vượt sông (đồng bằng Nam bộ) bắt buộc phải giỏi kiểu bơi đứng, để tránh bị cá sấu “gắp”. Bơi đứng vừa dễ quan sát, chẳng may cá sấu lao đến táp thì nhanh mà né, nếu táp trúng cũng đỡ nguy hiểm… Nhìn vào văn chương thì thấy Nam bộ ngày trước là “thiên đường” của cá sấu!

Nhà văn Sơn Nam có lẽ là người viết nhiều nhất về đề tài bắt cá sấu. Trong “Hương rừng Cà Mau” ông kể “ở vùng U Minh Hạ sấu thường đi ngược sông Ông Đốc, rạch Cái Tàu vào giữa rừng tràm...”. Đến mùa nắng hạn rừng khô, chúng kéo vào “lập căn cứ” ở ao, lung trong rừng tràm đến độ “nhiều như trái mù u chín rụng”. Khi ở sông lớn, sấu có thể cản mũi đoàn ghe...

Trong tiểu thuyết “Đất rừng phương Nam”, nhà văn Đoàn Giỏi có một chương “Phường săn cá sấu” kể về “mẹo” bắt sấu ngày xưa. Sấu dữ dằn, thợ săn dùng kế dụ sấu lên bờ cho nó đớp khúc gỗ mớp (loại gỗ mềm, dính) thế là hai hàm răng sấu dính chặt. Người ta bèn cắt gân đuôi sấu rồi trói lại…

Cá sấu còn bò vào nhiều vùng đất mới vừa gây tai họa vừa cung cấp thực phẩm, đồ mỹ nghệ (chủ yếu là da) để rồi nhân dân lấy sấu đặt tên cho nơi (thường là nhiều sấu), như Đìa Sấu (Cai Lậy, Tiền Giang), rạch Đầu Sấu (Vĩnh Hưng, Long An), cầu Đầu Sấu, Cái Răng (Cần Thơ), ấp Đầu Sấu Đông, ấp Đầu Sấu Tây (Hồng Dân, Bạc Liêu), rạch Cái Cá (Thạnh Phú - Bến Tre), rạch Cái Cấm (Mỏ Cày - Bến Tre), rạch Cái Khế (Cần Thơ), bưng Sấu Hì (Đồng Tháp Mười)…

Tất nhiên cách đặt tên cũng dựa vào những câu chuyện về sấu như ở Kiên Giang có Ngã ba Tàu là dựa vào truyền thuyết có một con cá sấu bị người chặt đứt khúc đuôi nên trông như một chiếc tàu. Hay ở Cà Mau (huyện Ngọc Hiển) có cái hang hàng trăm con sấu trú ngụ liền gọi đấy là Hang Sấu… Với con người thì cái gì yêu quá hay ghét quá cũng thành “thiêng”. Vì sợ nên hình thành tín ngưỡng thờ cá sấu ở các bến sông. Ở thành phố Cần Thơ ngày nay vẫn còn một ngôi chùa cổ có tên Ông Vàm Đầu Sấu. Truyền thuyết về cá sấu của người dân miền Tây thì rất nhiều với “Ông Đình Tây và sấu Năm Chèo”, “Thần Ô Ngư Ngạc”, “Sự tích địa danh Đầu Sấu, Cái Da, Cái Răng”…

Nhiều truyền thuyết gắn liền với sông Vàm Nao, dài chỉ hơn 7km, nhưng sâu gần 20m. Đây là con sông duy nhất nối sông Tiền và sông Hậu, rất nhiều sấu. Theo sách “Tân Châu xưa” (Nguyễn Văn Kiềm và Huỳnh Minh biên soạn), Vàm Nao còn gọi là xoáy Hồi Oa vì nước chảy cuộn xoáy rất nguy hiểm, lại có loài sấu dữ rình rập người bơi qua sông, hoặc chẳng may ghe thuyền bị lật là chúng lao đến… Năm 1700, Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh phụng mệnh chúa Nguyễn mở cõi về Nam khi đến đây đã đổi Vàm Nao là “Thuận Vàm” với mong muốn mọi việc thuận lợi, hanh thông…

Nổi tiếng nhất là truyền thuyết sấu coi hát bội gắn liền với câu chuyện có một chàng lực điền làm đám cưới với cô thôn nữ ở làng bên. Đoàn rước có hàng chục xuồng, ghe, có dàn nhạc lễ, trống kèn… vui như ngày hội. Khi đi qua khúc sông nọ, bất thần con sấu nổi lên, quật đuôi làm chìm 3-4 chiếc xuồng. Vài người khác và cô dâu mất tích.

Đau đớn khôn cùng, chú rể quyết bắt bằng được sấu để trả thù. Biết cá sấu vùng này rất thích nghe hát bội, khi nghe hát sấu lại hiền như người vậy, cũng dỏng tai, cũng hân hoan khi nghệ sĩ buông ra lời hát hay… Anh cho người đào sâu vào bên trong bờ thành hẻm sông hình chữ U, phía trong cùng làm sân khấu thuê ba gánh hát bội hay nhất về diễn. Đàn sấu đến nghe hát, thấy con sấu đã giết vợ mình, đợi nó vào sâu sát bờ… anh ra hiệu dân làng đắp đập ngăn lại.

Chờ đúng dịp, hàng trăm mũi lao găm vào thân sấu… Anh xả thịt sấu, từng phần cơ thể nó trôi đi khắp nơi, chỗ cái đầu dạt vào thì gọi là Đầu Sấu, phần da trôi tới thì gọi là Cái Da, phần răng rơi vãi thì gọi là Cái Răng… Bóc cái vỏ huyền thoại thì cái lõi của truyền thuyết có thể là ba lớp nghĩa: hát bội có sức chinh phục lớn nên rất được yêu thích; nạn sấu hoành hành; biểu tượng cá sấu ăn sâu vào tâm thức, tập quán con người.

Sấu có nhiều loại: sấu lửa, sấu cá, sấu bưng, sấu mun, sấu hoa cà… Sấu hoa cà rừng Sác lớn nhất, con trưởng thành dài từ 6-7m, nặng đến hơn 1.000kg, bơi lội rất giỏi, hàm khỏe có từ 64-68 răng. Để bắt được sấu lớn loại này phải dùng mồi vịt hay mồi chó. Mồi được móc vào lưỡi câu to, bén và nối với sợi dây câu chắc, dài. Thợ săn ôm mồi lội xuống nước, nhử cá sấu đến. Khi cá há miệng định táp, thợ câu nhanh tay ném con mồi vào miệng nó… Dân vùng U Minh Hạ còn có sáng kiến đốt lửa để bắt loại sấu cá, sống ở ao giữa rừng.

Tại sao người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long hay khắc hình đầu cá sấu lên chiếc xe bò? Vì loại xe này gần gũi thân thiết với họ như ngư dân gắn bó với con thuyền. Cơ bản hơn, sống, tiếp xúc nhiều với cá sấu, họ đã “thiêng hóa” nó thành một biểu tượng cho sự mạnh mẽ, quyết tâm, thắng lợi, hanh thông trong cuộc sống. Điều này cũng lý giải trong kho tàng truyện cổ dân gian Khmer, nhân vật con cá sấu luôn xuất hiện với tần số cao.

Ở nhiều nền văn hóa cổ Đông Tây, cá sấu là biểu tượng của bóng tối và cái chết, sức mạnh của sấu được ví như sức mạnh của địa ngục, quyền năng, của lửa và nước. Đến nay nhiều thổ dân châu Phi còn giữ được điệu vũ cá sấu trong các lễ hội tế thần đất và mặt trời. Trong thần thoại Ai Cập, sấu được gắn với các biểu trưng mang tính vũ trụ: mắt là mặt trời (đỏ lòm), miệng là vực thẳm chết chóc, đuôi là bóng tối. Thần sấu cai quản các dòng nước, được thờ phụng tử tế, chu đáo. Trong truyền thuyết Ấn Độ và một số nước Nam Á có biểu tượng con Makara huyền thoại là linh vật kết hợp giữa cá sấu và vòi voi. Cá sấu và voi là biểu tượng vật nâng đỡ thế giới (tương tự con rùa trong văn hóa Việt). Hai linh vật này còn có thể “hô mưa gọi gió” giúp đỡ dân lành…

image003.jpg -1
Trẻ em vùng Bazoule (Tây Phi) coi cá sấu như vật nuôi.

Không phải ở đâu sấu cũng dữ dằn và ăn thịt người. Ở vùng Bazoule - Tây Phi người dân sống gần gũi thân mật với cá sấu như chó, mèo. Trong vùng đầm nước, xung quanh đầy cá sấu nhưng trẻ con vẫn bơi lội, tắm táp, phụ nữ thì thoải mái giặt giũ… Theo các nhà “sấu học” thì sấu ở Bazoule thuộc loài Crocodylus suchus (còn gọi là cá sấu sa mạc) hiền lành là do môi trường sống trong rừng sâu, ở các vùng đầm phá và ngập nước nhiều thức ăn, khí hậu, thời tiết hài hòa. Thế là người ta lại “thiêng hóa” nó bằng cách “cưới” sấu làm vợ.

Tất nhiên chỉ có cánh đàn ông được phép làm việc này và trong ngày “hôn lễ” sấu (cái) bị buộc mõm bằng tấm vải thật đẹp, thật mềm, cũng thật chắc để tránh xảy ra việc “cô dâu” “làm nũng” không đúng lúc. Người ta coi “cưới” sấu là việc làm cung kính thần linh (cũng là cách tăng cường sự hài hòa con người và tự nhiên) nên các đàn ông làm công tác quản lý chính quyền thường “nêu gương” “cưới” trước!

Vì sao người Việt gọi là “sấu”? Có thể bắt nguồn từ âm tiếng Trung Quốc (shou) có nghĩa là “thú”. Gọi vậy vì căn cứ vào đặc trưng, là loài lưỡng cư, sấu sống dưới nước như cá, sống trên cạn như thú và cũng có nanh vuốt như thú!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).