Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Nhà văn Tô Hoàng sinh năm 1941, quê Hưng Yên, hiện sống ở TP.Hồ Chí Minh, ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm, rồi nhập ngũ vào chiến trường phía Nam, từng là sĩ quan pháo binh, học ngành đạo diễn phim tài liệu ở Liên Xô cũ, rồi làm báo, viết văn, làm phim truyền hình. Ông đã in 13 tập truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, phê bình và dịch thuật.

Khơi dậy chiều sâu cảm xúc về số phận con người

Ngay từ nhan đề, tác phẩm của Tô Hoàng đã gợi ra một nghịch lý đầy ám ảnh: “mau nhớ lâu quên” vừa là một cách nói dân gian hóm hỉnh, vừa hàm chứa quy luật tâm lý của người từng đi qua chiến tranh: nhiều chuyện đời thường có thể lẫn đi, nhưng những ký ức gắn với mất mát, đồng đội, quê hương, tình yêu, cái chết và sự sống thì lại khắc sâu đến tận cùng.

Tập sách được tổ chức dưới hình thức bút ký – tản văn, gồm nhiều bài như “Hà Nội và tôi”, “Chuyện làng Láng 1”, “Chuyện làng Láng 2”, “Ai còn nhớ, ai đã quên?”, “Nón lá Ba Đồn và những đêm sông Gianh”, “Hiu hắt người già”, “Mùi già”, “Thế nào là đọc? Thế nào là viết?”, “Một đoạn đường vào Đắk Tô”, “Thời chiến, rất cần đến cố vấn ái tình”…

Chính hệ thống nhan đề ấy đã cho thấy độ mở đề tài của cuốn sách: từ chiến tranh đến đời thường, từ thời tuổi trẻ trận mạc đến tuổi già suy tưởng, từ những chuyện lớn lao của đất nước đến những chi tiết nhỏ nhoi mà ám ảnh của một đời người.

1.jpg -0
Nhà văn Tô Hoàng.

Điều trước tiên làm nên giá trị của “Lính già mau nhớ lâu quên” là nội dung tư tưởng giàu chất nhân văn và chiều sâu lịch sử sống động. Tô Hoàng không viết chiến tranh như một khối sự kiện khô cứng, càng không nhìn nó từ khoảng cách lạnh lùng của người kể chuyện đứng ngoài. Ông viết từ bên trong ký ức của một người lính đã sống, đã chứng kiến, đã mất mát, đã đi qua chiến tranh rồi bước tiếp trong đời sống hòa bình.

Bởi vậy, chiến tranh trong tập sách hiện lên không chỉ bằng bom đạn, hành quân, thiếu đói, sốt rét, chết chóc, mà còn bằng nỗi nhớ nhà, nhớ phố, nhớ người yêu, nhớ mẹ, nhớ bạn, nhớ một chiếc hộp sữa, một chiếc nón lá, một bến phà, một giọng nói, một tên làng.

Bài “Hà Nội và tôi” mở đầu bằng ký ức về những người lính rời Hà Nội, từ đó nỗi nhớ thành một nỗi đau không thể gọi tên trọn vẹn, bởi nhiều người “không bao giờ trở về Hà Nội một lần nữa”. Câu tưởng tượng sửa lời bài hát “Ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó” thành “Dưới đất sâu, tôi vẫn thầm mơ…” đã khiến Hà Nội không còn chỉ là địa danh, mà trở thành biểu tượng của quê hương, của tuổi trẻ, của phần đời dang dở.

Tư tưởng chủ đạo xuyên suốt tập sách là sự tri ân đối với thế hệ đã hiến dâng tuổi trẻ cho đất nước, nhưng sự tri ân ấy không được phát biểu bằng lời lẽ hô khẩu hiệu mà bằng những câu chuyện rất người, rất cụ thể.

Trong “Chiếc vỏ hộp sữa Guigoz”, tác giả kể về di vật cuối cùng còn lại của một người bạn hy sinh: tất cả quân trang đã mục rã, chỉ còn chiếc vỏ hộp sữa mẹ đặt vào ba lô con trai ngày lên đường. Chi tiết ấy làm bừng lên cả một thế giới tình mẫu tử, đời sống thiếu thốn của thời chiến, sự chắt chiu của người mẹ, và bi kịch khôn nguôi của một gia đình có con đi mà không trở lại.

Khi hài cốt người con được đưa về, chiếc vỏ hộp được đặt bên cạnh bó hài cốt trước bàn thờ mẹ - một hình ảnh vừa bình dị vừa thấm thía đến quặn lòng. Ở đây, Tô Hoàng đã cho thấy một phẩm chất nổi bật của bút ký nghệ thuật: từ một vật nhỏ bé, ông khơi dậy được chiều sâu cảm xúc và số phận lịch sử.

2.jpg -1
Tác phẩm “Lính già mau nhớ lâu quên” giàu cảm xúc và tư tưởng.

Tập sách còn đặc biệt sâu sắc ở chỗ nó không đóng khung chiến tranh trong quá khứ, mà luôn đặt quá khứ ấy trong đối thoại với hiện tại. “Chuyện làng Láng 1” và “Chuyện làng Láng 2” là những trang viết tiêu biểu cho mạch suy tưởng này. Làng Láng hiện đại lên với nhà tầng, đất vàng, đô thị hóa, với những tranh luận rất đời về được - mất, giàu - nghèo, đổi thay - lưu giữ.

Nhưng phía sau câu chuyện về rau thơm, đất vườn, rượu làng Vân, tiết canh, giá đất, chính là nỗi lo của người mẹ: “nhà cao lớp lớp, tầng tầng, đường sá xẻ ngang, xây dọc như thế này, đến ngày giỗ, ngày tết, thằng em con và lũ bạn làng Láng của nó làm sao lần ra đường mà tìm về nhà”.

Câu nói ấy nâng câu chuyện làng xóm lên thành một suy tư lớn về ký ức cộng đồng: hiện đại hóa là tất yếu, nhưng nếu không giữ được lối về tinh thần cho những người đã khuất, cho lịch sử của một vùng đất, thì sự phát triển ấy sẽ mang theo cả nỗi trống vắng.

Lối văn mộc mạc, giàu duyên kể chuyện

Một nội dung tư tưởng quan trọng khác của tác phẩm là khẳng định phẩm giá con người trong chiến tranh. Bài “Ai còn nhớ, ai đã quên?” không chỉ kể lại các nhân chứng của ngày 5/8/1964, mà còn nhấn mạnh cái “lõi cốt” làm nên hành động anh hùng: đó là “phẩm giá làm người” được xã hội, nhà trường và cuộc sống bồi đắp trước khi chiến tranh ập đến.

Từ cựu thuyền trưởng Nguyễn Văn Giảng, Phan Đăng Cát, Nguyễn Viết Xuân, Ngô Thị Tuyển, La Thị Tám, Thái Văn A… đến những người cha, người vợ, người học sinh, tất cả hiện lên không như những “biểu tượng tuyên truyền” mà như những con người thật, với tuổi tác, đời sống, ký ức và nỗi lòng riêng.

Cách nhìn ấy giúp tác phẩm tránh được lối viết một chiều; đồng thời nó khẳng định rằng chủ nghĩa anh hùng Việt Nam không tách rời đời sống bình thường, mà bắt nguồn từ chính đạo lý, tình thương, sự tử tế và lòng tự trọng của những con người bình dị.

Về ngôn ngữ, Tô Hoàng sở hữu một lối văn mộc mạc mà giàu duyên kể chuyện. Ông không chuộng cầu kỳ, không làm dáng chữ nghĩa, nhưng văn vẫn có nhịp, có hồn và có sắc thái khẩu ngữ rất riêng. Câu văn của ông khi thì chậm, trầm, ngậm ngùi; khi lại lanh lảnh, hóm hỉnh, đầy sinh khí đời thường. Cách đưa lời ăn tiếng nói của lính, của dân quê, của người già vào trang viết làm cho tác phẩm có độ “sống” rất cao.

Đặc biệt, ngôn ngữ của ông thường chở hai tầng: bề mặt là chuyện kể giản dị, nhưng bên dưới là cảm thức thời gian, là sự day dứt về mất mát, là nỗi lo ký ức bị phai nhạt. Nói cách khác, cái hay của văn Tô Hoàng không ở những cú phô diễn nghệ thuật, mà ở khả năng làm cho lời kể như nói chơi mà chạm rất sâu.

Từ những phương diện trên, có thể thấy đóng góp của “Lính già mau nhớ lâu quên” đối với văn xuôi đương đại Việt Nam là rất đáng kể. Trước hết, tác phẩm góp phần làm mới cách viết về chiến tranh. Nếu văn học chiến tranh một thời thiên về sử thi, ca ngợi tập thể, nhấn mạnh chiến công, thì Tô Hoàng trở về với chiến tranh từ góc nhìn cá nhân hóa, đời thường hóa, ký ức hóa.

Ông không phủ nhận tính lớn lao của cuộc chiến, nhưng ông kể nó bằng thân phận, bằng mảnh vỡ ký ức, bằng những chuyện tưởng như vụn vặt. Chính cách viết ấy giúp chiến tranh trở nên gần gũi hơn với độc giả hôm nay, nhất là thế hệ trẻ vốn đã xa trải nghiệm bom đạn. Thay vì áp đặt một bài học, tác phẩm đánh thức sự đồng cảm.

Tóm lại, “Lính già mau nhớ lâu quên” của Tô Hoàng là một tập bút ký - tản văn giàu sức nặng cảm xúc và tư tưởng. Giá trị của tác phẩm nằm ở chỗ nó viết về chiến tranh mà không ồn ào, viết về người lính mà không lên gân, viết về tuổi già mà không bi lụy, viết về hiện tại mà vẫn giữ được độ từng trải, bao dung. Trong những trang viết ấy, người đọc bắt gặp một giọng văn riêng: chân thật, dí dỏm, sắc sảo, đằm sâu, giàu chi tiết sống và đặc biệt giàu tình người.

Tô Hoàng đã làm hiện lên tầm vóc tinh thần của cả một thế hệ. Và đó là lý do “Lính già mau nhớ lâu quên” xứng đáng được xem như một đóng góp có ý nghĩa cho văn xuôi đương đại Việt Nam: một tác phẩm gìn giữ ký ức, khơi gợi lòng tri ân và nhắc con người hôm nay sống có chiều sâu hơn với quá khứ, với đồng loại và với chính mình.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.