“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay”...

Nhìn về văn hóa cổ xưa của nhân loại thì mưa nói chung là một tín ngưỡng cơ bản, một biểu tượng thiêng của nhiều cộng đồng. Hầu như hình tượng giọt mưa đều rơi ở mọi chân trời văn hóa, vì đơn giản nhờ có mưa mà mùa màng mới tươi tốt, mọi vật mới sinh sôi.

Có lẽ Nguyễn Trãi là một trong những tác gia đầu tiên viết về hình tượng mưa xuân được hậu thế truyền tụng và ca ngợi: “Nhàn trung tận nhật bế thư trai/ Môn ngoại toàn vô tục khách lai/ Đỗ vũthanh trung xuân hướng lão/ Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai” (Nhàn rỗi suốt ngày đóng cửa phòng sách/ Ngoài cửa vắng khách tục đến/ Trong tiếng đỗ vũ kêu ý chừng xuân đã muộn/ Cả một sân hoa xoan nở dưới mưa phùn” (Mộ xuân tức sự). Khi đỗ vũ (tức chim cuốc) kêu thì đã vào cữ cuối xuân.

Tiêu biểu cho phép “lấy động tả tĩnh”, bài thơ có 4 câu thì ba câu tả không gian vắng vẻ, im lặng, chỉ ở câu 3 vang lên một thanh âm khắc khoải, thảng thốt. Nó vọng về từ miền điển cố xa xưa rồi vọng cả vào nỗi trăn trở, tiếc nuối của thăm thẳm một tâm trạng buồn. Truyền thuyết Trung Hoa kể vua Đỗ Vũ (tức Vọng Đế) tin dùng bề tôi Miết Linh mà cất lên làm tướng. Miết Linh cướp ngôi, Đỗ Vũ đau đớn hóa thành con chim ngày đêm kêu “Quốc! Quốc”. Dễ thấy bài thơ được làm trong thời gian Ức Trai ở ẩn vẫn luôn thao thức một nỗi “vua tôi”. Hình ảnh thơ cho thấy thời ấy tiết xuân dài hơn hôm nay. Mưa phùn có ở cả cuối xuân.

mua_xuan_16255529122023.jpg -0
Mưa xuân xứ Việt.

Hoa xoan, dù ở nhà quê cũng ngày một ít đi, thật tiếc. Vì ngày nay làm nhà bằng bê tông cốt sắt nên thứ cây quý để làm nhà là cây xoan không còn được quý nữa. Nhưng mưa xuân thì ở thành phố vẫn còn, nhưng biết đâu, cũng theo hoa xoan mà đi vào dĩ vãng. Thế nên, một nhà thơ hiện đại mới lo xa mà hoài cổ trong một bài thơ hay có tên “Tạ lỗi cùng mưa bụi”: “Chao ôi mưa bụi, ơi mưa bụi/ Chữ nghĩa vô duyên lỡ hẹn rồi/ Ước gì trở lại xuân năm cũ/ Để được “làm mưa tan giữa trời” (Anh Ngọc). “Làm mưa tan giữa trời” là mượn từ lời bài hát “Biết đâu nguồn cội” của Trịnh Công Sơn nhưng cũng là đặc trưng của mưa phùn, mưa không thành giọt mà tan ra thành muôn triệu hạt li ti… Thế nên mưa xuân còn gọi là mưa bụi…

Nhưng khoa học thì gọi là mưa phùn- hiện tượng ngưng tụ nước thành những hạt (đường kính dưới 0.5 mm) nhỏ hơn giọt mưa, được tạo ra bởi những đám mây thấp. Lượng mưa rơi xuống cũng không đáng kể (khoảng 1mm mỗi ngày). Do kích thước nhỏ nên hầu hết những hạt mưa phùn sẽ bị bốc hơi trước khi chạm mặt đất. Mưa phùn xuất hiện ở miền Bắc khi nhiệt độ xuống thấp, độ ẩm cao. Mưa phùn giúp cây cối đâm chồi nảy lộc. Mưa bịn rịn, mơn man vào lá cành như mời gọi cây xanh thức tỉnh sau một mùa đông dài.

Nhìn về văn hóa cổ xưa của nhân loại thì mưa nói chung là một tín ngưỡng cơ bản, một biểu tượng thiêng của nhiều cộng đồng. Hầu như hình tượng giọt mưa đều rơi ở mọi chân trời văn hóa, vì đơn giản nhờ có mưa mà mùa màng mới tươi tốt, mọi vật mới sinh sôi. Mưa tạo ra nước, nhờ nước mà con người mới có thể sinh hoạt, lao động, do vậy tín ngưỡng cầu mưa có ở hầu khắp mọi nền văn minh. Người Việt cổ ngày xưa khấn trời: “Lạy trời mưa xuống/ Lấy nước tôi uống/ Lấy ruộng tôi cày...”. Người Việt quý mưa đến mức đồng nhất mưa với ân huệ của “bề trên” (ơn mưa móc), thậm chí đồng nhất với hạnh phúc (Mưa bao giờ mát mặt bấy giờ)…

image003.jpg -0
Tranh minh họa mưa xuân Nhật Bản.

Với văn hóa phương Tây cổ thì mưa là cuộc giao hoan hạnh phúc của trời đất. Mưa đồng nghĩa với tinh khí (làm thụ thai), với hạt giống, với sữa mẹ. Người Sumer cổ tin rằng mưa là tinh dịch của thần bầu trời (An) rơi xuống để thụ tinh cho vợ là nữ thần trái đất (Ki). Thần Ki sinh ra mọi cây cối, hoa màu. Người Akkad lại cho rằng mây là ngực còn mưa là sữa của nữ thần Antu, cây cối được uống sữa này mới tươi tốt…

Truyền thuyết Hy Lạp kể thần Zeus hóa thành cơn mưa vàng rồi lọt qua kẽ nứt mái vòm mà vào phòng người yêu là công chúa Danae. Họ sinh ra được cả một thế hệ thần thánh mới. Từ đó thuật ngữ “cơn mưa vàng” chỉ những cuộc giao phối sẽ sinh nở ra tài năng, dần dần chuyển nghĩa chỉ những cơ hội hiếm có. Theo tích truyện thì “cơn mưa vàng” ấy hạt mưa cũng rất nhỏ, rất nhỏ thì mới có thể lọt qua kẽ nứt của mái vòm để êm dịu nhẹ nhàng rơi vào bụng công chúa…

Thì ra, với tình yêu và với cả tự nhiên thì “mưa dầm thấm lâu” hay hơn nhiều kiểu “mưa như trút”… (!?). “Mưa dầm” thực ra là mưa phùn nhưng kéo dài trong thời gian nhiều ngày… Không chỉ các nhà thơ thích, nông dân cũng thích vì cây xanh được tưới tắm để sinh sôi, người vẫn có thể làm việc bình thường. Dưới mưa phùn vẫn có thể gặp người tình để trao lời: “Mưa xuân lác đác ngoài trời/ Trông ra đường, thấy một người thơ ngây/ Gặp nhau ở quãng đường nầy/ Như cá gặp nước như mây gặp rồng”.

Mưa xuân trao cho con người cơ hội thu được nhiều thành quả: “Mưa xuân phơi phới vườn hồng/ Ta về đập đất, ta trồng lấy cây/ Trồng lấy cây mong ngày ăn quả/ Can chi mà vất vả như ai”. Mưa xuân cho người ta biết thương nhau, sẻ chia cho nhau: “Mưa lâm râm ướt đầm lá cải/ Em cảm thương người áo vải mong manh”… Mỹ cảm người Việt yêu thích những gì nhẹ nhàng, tình tứ, tinh tế: “Mưa xuân lác đác vườn đào/ Công anh đắp đất ngăn rào vườn hoa”, ghét cảnh thô bạo: “Ai làm gió táp mưa sa/ Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn”…

Ở châu Á, Nhật Bản có mưa phùn gần giống mưa phùn ở ta nhưng nặng hạt hơn. Những cơn mưa ấy nhẹ nhàng, trong trẻo được người Nhật ví như những hạt ngọc trời rơi xuống tưới tắm cho mùa màng và tinh thần con người. Nhà thơ Kobayashi Issa có bài “Mưa mùa xuân reo...” lấy mưa để tả niềm vui, phấn khởi: “Mưa mùa xuân reo/ một cô gái bé nhỏ/ dạy mèo con múa theo”. Mưa reo không chỉ làm người vui mà con vật cũng vui, có thể múa theo người. Nhưng cũng nhiều bài buồn, thăm thẳm cô đơn, hướng nội: “Mưa xuân/ không viết nổi thứ gì/ thân sao thật đáng thương” (Yosa Buson - “Mưa xuân”). Về văn xuôi có “Truyện mưa phùn ngày xuân” của tác giả Ueda Akinari được coi là một trong những kiệt tác của văn học Nhật Bản thế kỷ XVIII. Từ vựng Nhật cũng có các từ tương đương nghĩa với tiếng Việt như “harusame” (mưa xuân/mưa phùn), “shunrin” (mưa dầm), “harushigure” (mưa bóng mây)…

Ở nước ta, hầu hết dân ca các dân tộc phía Bắc đều có bài về mưa xuân. Nhưng phổ biến và đặc sắc hơn cả là bài “Mưa rơi” của dân tộc Xá với lời hát vui tươi, ấm áp, nồng nàn mà thật tinh tế: “Mưa rơi cho cây tốt tươi, búp chen lá trên cành/ Rừng đẹp trăm hoa rung rinh theo gió, bướm tung cánh bay vờn/ Bên nương ríu rít tiếng cười bao trai gái đang nô đùa/ Đầu sàn có đôi chim cu đua gáy, thách đôi én cùng múa vui…”. Những hạt “mưa xuân” nhẹ nhàng đủ để “hoa rung rinh theo gió”, để “bướm tung cánh”, và con người “ríu rít tiếng cười” bên nương…

Trong âm nhạc đương đại, bài “Hạt mưa mùa xuân” của Trương Ngọc Ninh diễn tả những cơn mưa song hành, mưa xuân ngoài trời và mưa xuân trong tâm trạng “đắm say”, “nồng nàn”: “Gió đưa trên cành hạt màu mưa xanh/ Cười trong mắt ai rộn ràng mùa xuân tới/ Nước non tháng ngày mầm xanh cỏ cây/ Trái tim dâng đầy tình yêu đắm say/… Ðất nước vào xuân rộn rã lòng người/ Nồng nàn tình yêu trào dâng sức sống”. Nhạc sĩ Đức Trịnh lại có bài “Mưa xuân” tha thiết, dịu dàng diễn tả mưa nhẹ vương trên hoa xuân, vương vấn cả trong lòng người: “Hạt mưa mùa xuân/ Là hạt mưa lòng em ngời trong ánh mắt/ Hạt mưa mùa xuân/ Dịu dàng mưa nhẹ hôn lên má em ngọt ngào…/ Đậu vào hoa tình yêu mùa xuân phơi phới…”.

Mời bạn cùng du hành trong mưa xuân mát lành…!!!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).