Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

1.Sinh ra ở Ân Thi, Hưng Yên, nhưng gần như trọn đời gắn bó với Yên Bái, Hoàng Thế Sinh là một trường hợp đặc biệt của văn chương "rời quê để nhập thân". Từng là người lính chiến đấu tại chiến trường Lào, mang thương tật trở về, rồi làm thầy giáo, làm báo và gắn bó lâu dài với Báo Yên Bái trong vai trò Phó Tổng Biên tập, ông đã đi qua nhiều lớp vai trò trước khi định hình mình như một nhà văn. Con đường ấy không phải là chuỗi chức danh, mà là một hành trình tích lũy trải nghiệm sống, đủ dày để văn chương không còn là sự tưởng tượng, mà trở thành kết tinh của đời sống.

Chính sự "đi qua" ấy khiến văn chương của ông không mang cảm giác của một người đứng ngoài quan sát, mà là của một người đã sống trong chính đời sống mà mình viết ra. Những năm làm báo cũng là giai đoạn ông tích lũy một khối lượng chất liệu thực tế đáng kể. Đi nhiều, gặp nhiều, chứng kiến nhiều, ông không chỉ ghi nhận sự kiện, mà còn giữ lại những chi tiết nhỏ của đời sống, thứ sau này trở thành lớp nền bền vững cho sáng tác.

2.jpg -0
Nhà văn Hoàng Thế Sinh.

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Một chi tiết ám ảnh: ông từng viết tiểu thuyết “Mẹ là nông dân” trong tư thế đứng, giữa những ngày bệnh nặng. Viết trong đau đớn đã là thử thách, nhưng viết trong tư thế không thể ngồi lại là một giới hạn khác của lao động sáng tạo. Ở đây, viết không còn đơn thuần là hành vi nghệ thuật, mà trở thành một cách khẳng định sự tồn tại. Từ đó có thể thấy rõ: văn chương của Hoàng Thế Sinh không tách rời con người ông. Nó là sự kéo dài tự nhiên của nhân cách. Cái "đứng" trong văn chương, trước hết là cái đứng của một con người, rồi mới là cái đứng của một nhà văn.

2.Trong thế giới nghệ thuật của Hoàng Thế Sinh, người phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số, không phải là đối tượng để miêu tả, mà là trung tâm của cảm hứng. Ông không nhìn họ từ khoảng cách của một người quan sát, mà từ vị trí của một người sống cùng, hiểu cùng và đau cùng. Vì thế, những nhân vật nữ trong các tác phẩm của ông không bị lý tưởng hóa, cũng không bị giản lược, mà hiện lên như những con người thật, với đầy đủ yếu đuối, khát vọng, bi kịch và phẩm giá.

Đi qua các tiểu thuyết như “Thuốc phiện và Lửa”, “Rừng thiêng”, “Xứ Mưa”, hay “Bụi Hồ”, có thể thấy một điểm nhất quán: người phụ nữ không chỉ là nhân vật, mà là nơi kết tinh những xung đột sâu xa nhất của đời sống miền núi. Ở đó, họ vừa là nạn nhân của những tập tục, những lực kéo xã hội, vừa là chủ thể âm thầm giữ lại những giá trị bền vững nhất của cộng đồng. Văn chương của Hoàng Thế Sinh vì thế không nói về họ như một đối tượng bên ngoài, mà đặt họ vào vị trí trung tâm của một thế giới đang biến động.

Thiên nhiên trong văn ông không chỉ là bối cảnh, mà là một phần cấu thành nhân vật. Con người vùng cao không đứng ngoài núi rừng, mà hòa vào nó, trở thành một phần của hệ sinh thái văn hóa - tự nhiên. Những chi tiết tưởng như nhỏ như một tiếng gọi, một nếp váy, một câu hát không chỉ là tả thực, mà trở thành dấu hiệu văn hóa, có khả năng gợi mở cả một không gian sống.

Nhìn sâu hơn, có thể thấy Hoàng Thế Sinh không chỉ tích lũy chất liệu đời sống, mà còn tổ chức lại nó bằng cảm quan nghệ thuật. Một chi tiết đời thường, khi đi vào văn ông, không còn là dữ kiện, mà trở thành biểu tượng. Ở đây thấp thoáng một phương thức sáng tác vừa mang tính dân tộc học, vừa mang tính văn chương: quan sát tỉ mỉ như một người nghiên cứu, nhưng biểu đạt bằng độ rung cảm của một nghệ sĩ.

Chính điều này giúp văn chương của ông vượt ra khỏi phạm vi ghi chép đời sống để bước vào địa hạt của những vấn đề phổ quát. Đằng sau những câu chuyện miền núi là những xung đột quen thuộc của con người ở nhiều không gian khác: giữa truyền thống và hiện đại, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa khát vọng tự do và những ràng buộc vô hình.

Ở một bình diện khác, văn chương Hoàng Thế Sinh mang rõ đặc trưng tả thực trữ tình: hiện thực được phơi bày đến tận cùng nhưng không khô cứng; cảm xúc được đẩy lên cao nhưng không ủy mị. Những bi kịch như ma túy, xung đột bản làng, va đập xã hội không bị né tránh, mà được đưa thẳng vào trang viết. Ðiều đáng nói là, trong chính những hoàn cảnh tăm tối ấy, ông vẫn nhìn thấy những tia sáng của phẩm giá con người. Đó không phải là cái nhìn lãng mạn hóa, mà là một lựa chọn nhân văn.

3.jpg -1
Nhà văn Hoàng Thế Sinh cùng nhà thơ Hoàng Hạnh - nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (tác giả bài viết).

Không dừng lại ở trang sách, một số tác phẩm của ông đã bước ra đời sống bằng ngôn ngữ điện ảnh. Tiêu biểu là “Bụi Hồ”, sau khi gây tiếng vang, đã được chính tác giả chuyển thể thành kịch bản phim trinh thám hình sự. Điều đáng chú ý là khi chuyển sang điện ảnh, tác phẩm không bị mất đi "hồn" văn chương, mà vẫn giữ được chiều sâu con người và xung đột xã hội. Điều này cho thấy một đặc điểm quan trọng trong bút pháp của ông: khả năng tạo dựng không gian và tình huống có tính hình tượng cao.

Nếu đặt trong bối cảnh văn học hiện nay, có thể thấy một lựa chọn rõ ràng: trong khi nhiều cây bút hướng về đời sống đô thị, ông vẫn kiên trì với miền núi, với những cộng đồng đang đứng trước nguy cơ bị giản lược trong nhận thức xã hội. Văn chương của ông vì thế không chỉ có giá trị thẩm mỹ, mà còn góp phần điều chỉnh cách nhìn.

3.Một điểm đáng chú ý: Hoàng Thế Sinh không dựng nhân vật như những hình mẫu anh hùng. Nhân vật trong văn ông có thể sai lầm, có thể yếu đuối, có thể bị cuốn vào những vòng xoáy không do họ lựa chọn. Nhưng, chính trong những giới hạn ấy, nhân phẩm lại hiện lên rõ rệt nhất. Không phải khi con người đứng trên đỉnh cao, mà khi họ chông chênh trước vực sâu, phẩm giá mới lộ ra như một bản năng cuối cùng.

Giá trị bền vững của văn chương ông không nằm ở những cao trào kịch tính, mà ở độ lắng. Ông không tạo ấn tượng bằng cú sốc, mà bằng sự tích tụ. Mỗi tác phẩm như một lớp trầm tích của trải nghiệm, chồng lên nhau, tạo thành một thế giới quan nhất quán. Đó là thứ văn chương không bùng nổ nhưng thấm, không áp đảo nhưng ám ảnh.

Ở tầng sâu ấy, có thể nhận ra một phẩm chất quan trọng: sự kiên nhẫn. Ông không viết theo nhịp gấp của thị trường, không chạy theo đề tài dễ gây chú ý, mà chấp nhận đi một con đường dài, để trải nghiệm tự lắng xuống, tự kết tủa thành chữ. Sự kiên nhẫn ấy không chỉ là vấn đề thời gian, mà là một thái độ: không vội vàng kết luận, không dễ dãi với cảm xúc và không thỏa hiệp với những cách biểu đạt nông.

Vì vậy, đọc văn ông, người ta không bị cuốn đi bởi kịch tính, mà bị giữ lại bởi những chi tiết nhỏ. Một ánh nhìn, một câu nói, một cử chỉ tưởng như thoáng qua lại có thể bám lại rất lâu trong trí nhớ. Đó là thứ văn chương không ồn ào nhưng bền, không phô diễn nhưng thấm.

"Đứng để viết và viết để đứng" vì thế không chỉ là một hình ảnh, mà là một tuyên ngôn thầm lặng. Đứng là đứng vững trước sự dễ dãi, trước sức ép của thời thượng. Viết là hành động khẳng định sự đứng vững ấy. Và, sâu xa hơn, viết còn là cách trao lại cho những phận người khác khả năng được đứng lên, bằng việc trả lại cho họ tiếng nói và phẩm giá.

Trong một thời đại mà không phải lúc nào con người và tác phẩm cũng đi cùng nhau, Hoàng Thế Sinh vẫn giữ được sự liền mạch hiếm hoi ấy: con người thế nào, văn chương thế ấy. Ông không chỉ đứng trong văn chương, mà còn đứng trong lòng người đọc như một điểm tựa lặng lẽ, bền bỉ và khó thay thế.

Sau hơn một thập kỷ sáng tác bền bỉ, Hoàng Thế Sinh đã xây dựng một gia tài văn chương phong phú với nhiều thể loại. Các tiểu thuyết như “Thuốc phiện và Lửa”, “Rừng thiêng”, “Bụi Hồ”, “Xứ Mưa”, “Thời hoa đỏ”... tạo nên dấu ấn riêng về đề tài miền núi. Tác phẩm “Cánh đồng Chum mùa hoa ban” (NXB Hội Nhà văn, 2021) đoạt Giải thưởng Văn học sông Mê Kông.

Hoàng Hạnh - Trung Hiếu

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.

"Hang Hổ" - một bức tranh vùng cao mời gọi

"Hang Hổ" - một bức tranh vùng cao mời gọi

Tập "Hang Hổ" có 14 truyện ngắn, mỗi truyện là một bức tranh vùng cao theo các chủ đề khác nhau nhưng chung một phong cách trữ tình sâu lắng và hiện thực trào tiếu, tưởng như đối lập, xa nhau nhưng thống nhất tạo nên nét riêng ngòi bút Trần Nguyên Mỹ.