Bộ Chính trị xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách

Ngày 30-10-2019, Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng đã ký ban hành Kết Luận của Bộ Chính trị số 65-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc trong tình hình mới. Báo CAND trân trọng giới thiệu toàn văn.

Tại phiên họp ngày 17-10-2019, sau khi nghe Ban Chỉ đạo Trung ương báo cáo kết quả tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, ý kiến của các cơ quan liên quan, Bộ Chính trị đã kết luận:

1. Qua hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết, công tác dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố lòng tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước.

Các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các cấp đã cụ thể hoá thực hiện Nghị quyết phù hợp với điều kiện của địa phương, đơn vị. Nhà nước đã ban hành chính sách, pháp luật, bố trí nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tăng cường vận động, tuyên truyền, động viên đồng bào dân tộc thiểu số tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, phát huy nội lực để phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao cuộc sống, đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước.

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư, góp phần tạo diện mạo mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện rõ nét. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ; các giá trị văn hóa dân tộc truyền thống được bảo tồn và phát huy. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cơ bản được bảo đảm; đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc, miền núi được tăng cường, đội ngũ cán bộ được kiện toàn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ. Quốc phòng, an ninh, chính trị được giữ vững, ổn định.

2. Bên cạnh những thành tựu nêu trên, công tác dân tộc còn không ít khuyết điểm, hạn chế. Đến nay, chưa thực hiện được một số mục tiêu quan trọng Nghị quyết đã đề ra. Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung chuyển biến chậm. So với sự phát triển chung của cả nước và từng địa phương, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, kinh tế - xã hội phát triển chậm; tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo và nguy cơ tái nghèo cao; khoảng cách giàu - nghèo có xu hướng gia tăng. Hủ tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan chậm được khắc phục; còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

3. Khuyết điểm và hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan, song chủ yếu là nguyên nhân chủ quan:

- Một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về công tác dân tộc, thiếu sâu sát trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Nghị quyết; chưa quan tâm đúng mức đến công tác tạo nguồn quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số.

- Chính sách, pháp luật được ban hành chủ yếu là hỗ trợ, chưa ưu tiên tập trung đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

- Chưa chú trọng đúng mức phát huy tiềm năng, lợi thế, văn hóa của từng vùng, từng dân tộc; chưa thúc đẩy việc kết nối giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với vùng phát triển; một số chính sách chưa tạo động lực cho đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên, tự lập trong cuộc sống.

- Cơ chế điều hành, phân công trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ trong việc thực hiện các chương trình, dự án. Cơ chế phân cấp, phân quyền để tạo chủ động cho chính quyền địa phương chưa hợp lý; quy trình thủ tục đầu tư công chưa phù hợp với điều kiện, đặc điểm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là vùng đặc biệt khó khăn. Công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện công tác dân tộc thiếu thống nhất; một bộ phận cán bộ làm công tác dân tộc, cán bộ vùng dân tộc thiểu số và miền núi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

4. Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhân dân các cấp tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá IX nhằm phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chú trọng các nội dung sau đây:

4.1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng về công tác dân tộc, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong tình hình mới. Kiên trì thực hiện các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc trong Nghị quyết 24 và các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI, XII; xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách; là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị.

4.2. Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh vùng dân tộc miền núi phải toàn diện, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng và tinh thần tự lực của đồng bào dân tộc thiểu số.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tăng cường đồng thuận xã hội; củng cố lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước, phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hòa nhập phát triển cùng với đất nước.

4.3. Phát huy mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm quốc phòng - an ninh; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc. Tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức thiết. Rà soát, lồng ghép, sửa đổi, bổ sung chính sách; nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án; tăng cường hợp tác quốc tế, đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực để đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thúc đẩy đào tạo nghề, tạo việc làm, nâng cao hiệu quả và mở rộng vốn tín dụng ưu đãi đối với các dự án phát triển sản xuất, kinh doanh.

4.4. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, phát huy thế mạnh của địa phương, phù hợp với văn hóa, tập quán từng dân tộc. Hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, tạo sản phẩm đặc sản, giá trị cao. Chú trọng phát triển liên vùng, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng. Quan tâm phát triển du lịch, nhất là du lịch sinh thái, gắn kết du lịch với giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số.

Tập trung giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt và tranh chấp, khiếu kiện về đất đai; đẩy nhanh việc hoàn thành các dự án định canh, định cư mới gắn với quy hoạch sắp xếp, ổn định dân cư, hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng di cư tự phát. Đến năm 2025, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở cho đồng bào. Điều chỉnh cơ chế, chính sách, định mức khoán bảo vệ rừng, tạo sinh kế cho người dân sống gần rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, không gian sinh sống của đồng bào.

Ưu tiên nguồn lực nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là đường giao thông, công trình thuỷ lợi, chợ, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa phải được kiên cố hóa; bảo đảm các hộ gia đình dân tộc thiểu số được sử dụng điện lưới quốc gia, dịch vụ phát thanh, truyền hình, viễn thông, tiếp cận công nghệ thông tin phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt. Ban hành tiêu chí nông thôn mới phù hợp với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Phấn đấu đến năm 2030 không còn địa bàn khó khăn.

4.5. Phát triển đồng bộ các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Giữ vững và phát huy thành quả xoá mù chữ, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Nâng cao chất lượng và mở rộng hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; hỗ trợ việc ăn, ở cho học sinh, sinh viên vùng địa bàn đặc biệt khó khăn.

Đổi mới phương thức tuyển sinh theo hướng cử tuyển, chế độ dự bị đại học, đào tạo nghề cho đối tượng người dân tộc thiểu số. Có chính sách giải quyết việc làm đối với thanh niên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng và đào tạo nghề; có cơ chế chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Nâng cao tỉ lệ khám, chữa bệnh và chất lượng các dịch vụ y tế, nhất là khám, chữa bệnh ban đầu ở tuyến cơ sở; phát triển y học dân tộc kết hợp với y học hiện đại; đẩy mạnh phát triển y tế dự phòng; thực hiện các giải pháp đồng bộ. Tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận dịch vụ y tế, khám, chữa bệnh ở tuyến Trung ương thông qua chính sách bảo hiểm y tế.

Có biện pháp triển khai đầy đủ, kịp thời các chương trình tiêm chủng mở rộng, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Xây dựng và thực hiện chiến lược về phòng, chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, nâng cao sức khoẻ, tầm vóc thanh, thiếu niên dân tộc thiểu số. Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế, có cơ chế đào tạo cán bộ có trình độ chuyên sâu là đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương.

Nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của người dân. Đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hoá cơ sở ở từng vùng, từng địa phương; quan tâm tu bổ, bảo tồn các công trình di tích lịch sử, văn hoá; sưu tầm, bảo tồn và phát huy có hiệu quả giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số. Phát huy vai trò làm chủ của đồng bào trong xây dựng đời sống văn hoá, xoá bỏ các hủ tục lạc hậu. Có biện pháp quyết liệt để xoá bỏ tình trạng tảo hôn, chấm dứt sớm hôn nhân cận huyết thống.

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện nghiêm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Phát huy vai trò tích cực của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

4.6. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết những mâu thuẫn ngay từ cơ sở, kiên quyết không để xảy ra các "điểm nóng", "điểm phức tạp" về an ninh trật tự, đặc biệt ở các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung. Chủ động đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật, buôn bán người, ma tuý, xâm phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nhất là ở khu vực biên giới. Tăng cường quan hệ hợp tác, đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân vùng biên giới.

4.7. Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, đội ngũ cán bộ cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tăng cường phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số và khắc phục tình trạng không có tổ chức đảng và đảng viên ở các thôn, bản, nhất là đảng viên là người dân tộc thiểu số ở những vùng trọng điểm, vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường hoạt động của các mô hình tự quản tại cộng đồng; biểu dương, tôn vinh, động viên người tiêu biểu có uy tín, doanh nhân, nhà khoa học trong cộng đồng các dân tộc thiểu số có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tập trung phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; có giải pháp cụ thể, hiệu quả để bảo đảm tỉ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong cấp ủy và các cơ quan dân cử các cấp. Có chính sách đặc thù tuyển dụng công chức, viên chức đối với dân tộc thiểu số rất ít người, nhóm dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Chú trọng phát hiện, quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thực hiện tốt chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Có cơ chế để phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận tốt hơn dịch vụ công, dịch vụ xã hội thiết yếu. Quan tâm tạo nguồn cán bộ nữ dân tộc thiểu số; hỗ trợ nâng cao năng lực để tham gia vị trí quản lý lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị.

4.8. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, lồng ghép, tích hợp các chính sách hiện hành để hoàn thiện hệ thống chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đổi mới phương thức xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, ban hành “Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030”. Xây dựng tiêu chí phân định lại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng xác định rõ vùng dân tộc thiểu số (tỉnh, huyện, xã, thôn, bản), địa bàn xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thực hiện chính sách dân tộc. Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc nhằm bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

5. Tổ chức thực hiện

- Các cấp uỷ, tổ chức đảng từ Trung ương đến các địa phương, cơ sở vùng dân tộc thiểu số và miền núi có trách nhiệm phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 24-NQ/TW và Kết luận này.

- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo xây dựng "Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi" và "Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030".

- Ban cán sự Đảng Chính phủ lãnh đạo việc rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, ổn định, tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; hoàn thiện chính sách đối với cán bộ làm công tác dân tộc, nhất là cán bộ công tác ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

- Ban Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Ủy ban Dân tộc, các cơ quan, tổ chức liên quan chịu trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư về kết quả thực hiện Kết luận này.

***

(*) Đầu đề do Báo CAND đặt

PV

Các tin khác

Nhận diện đúng “xã hội dân sự” để đấu tranh hành vi lợi dụng chống phá Việt Nam

Nhận diện đúng “xã hội dân sự” để đấu tranh hành vi lợi dụng chống phá Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, thuật ngữ “xã hội dân sự” (XHDS) được nhắc đến ngày càng nhiều. Tuy nhiên, cùng với những giá trị tích cực, một số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng danh nghĩa XHDS để thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì vậy, nhận diện đúng bản chất XHDS và các hành vi lợi dụng là yêu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong tình hình mới.

Gộp 4 chương trình mục tiêu quốc gia để đẩy nhanh tiến độ

Gộp 4 chương trình mục tiêu quốc gia để đẩy nhanh tiến độ

Bên cạnh việc đẩy nhanh hoàn thiện cơ chế, chính sách, phân bổ nguồn lực và thúc đẩy giải ngân, Bộ Tài chính chủ trì xây dựng phương án thống nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) thành 1 CTMTQG tổng thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực và tăng cường phân cấp cho địa phương.

Kỳ 1: Những “mặt trận vô hình” của an ninh văn hóa

Kỳ 1: Những “mặt trận vô hình” của an ninh văn hóa

Có những mối đe dọa không xuất hiện bằng tiếng súng, không mang hình hài của một cuộc xung đột trực diện, song lại âm thầm tác động đến hệ giá trị, niềm tin, bản sắc, ký ức cộng đồng và khả năng tự chủ văn hóa của một quốc gia...

Bước đột phá trong tư duy phát triển của Đảng ở kỷ nguyên mới

Bước đột phá trong tư duy phát triển của Đảng ở kỷ nguyên mới

Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về phát triển xã hội. Đây không chỉ là nghị quyết giải quyết các vấn đề xã hội, mà xác lập mô hình phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu 6 nhiệm vụ trọng tâm trong công tác đối ngoại

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu 6 nhiệm vụ trọng tâm trong công tác đối ngoại

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đối ngoại đã phối hợp với quốc phòng, an ninh góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia dân tộc từ sớm, từ xa, từ khi chưa có nguy cơ. Diện mạo đối ngoại tiếp tục được mở rộng và nâng tầm.

Chủ động quản trị xã hội, giữ vững kỷ cương, an toàn vì sự phát triển bền vững

Chủ động quản trị xã hội, giữ vững kỷ cương, an toàn vì sự phát triển bền vững

Tại Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển qua đó tiếp tục khẳng định nhất quán quan điểm xây dựng nền quản trị hiện đại là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược gắn với nâng cao năng lực quản trị quốc gia.

Liêm chính - Nền tảng của một đảng cầm quyền vững mạnh

Liêm chính - Nền tảng của một đảng cầm quyền vững mạnh

Không có quốc gia nào phát triển bền vững chỉ bằng nguồn lực tự nhiên hay tốc độ tăng trưởng kinh tế. Điều quyết định cuối cùng vẫn là chất lượng quản trị quốc gia, mà cốt lõi của quản trị là chất lượng của đội ngũ nắm giữ quyền lực.

Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển – trụ cột phát triển mới

Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển – trụ cột phát triển mới

Lần đầu tiên Trung ương ban hành một nghị quyết chuyên đề toàn diện, xác lập tầm nhìn chiến lược về xây dựng xã hội trong kỷ nguyên mới của đất nước, khẳng định xây dựng xã hội không chỉ là kết quả của phát triển kinh tế mà còn là một trụ cột quan trọng trong mô hình phát triển đất nước.

Cấp thiết xây dựng cơ chế quản trị kỳ thi hiện đại, minh bạch và công bằng

Cấp thiết xây dựng cơ chế quản trị kỳ thi hiện đại, minh bạch và công bằng

Điều đáng quan tâm sau kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 không chỉ là việc xử lý các hành vi vi phạm, mà còn là yêu cầu nhìn lại hiệu quả của cơ chế tổ chức thực hiện Quy chế thi. Trong quản trị công, mỗi vụ việc phát sinh đều là cơ hội để rà soát, hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng quản lý.

Đồng chí Nguyễn Văn Phương-Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Trị kiểm tra, chỉ đạo đẩy nhanh việc xây dựng các công trình trường học liên cấp ở các xã biên giới tỉnh Quảng Trị.

Tăng tốc xây dựng các trường học vùng biên giới để kịp tiến độ

Tỉnh Quảng Trị được đầu tư xây dựng mới 11 trường phổ thông nội trú liên cấp vùng biên giới. Tổng mức đầu tư của 11 dự án là 2.339 tỷ đồng. Hiện, địa phương đang huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc để việc xây dựng trường học đạt tiến độ khi năm học mới đang cận kề.

TP Hồ Chí Minh rà soát khai thác nhà đất công dôi dư

TP Hồ Chí Minh rà soát khai thác nhà đất công dôi dư

Sau quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và điều chỉnh đơn vị hành chính, TP Hồ Chí Minh có nhiều nhà, đất công dôi dư. Nếu không được xử lý kịp thời, những trụ sở, cơ sở nhà đất này sẽ tiếp tục bị bỏ trống, xuống cấp, gây thất thoát nguồn lực công và làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản nhà nước.

Nỗi lòng thầy u tôi mỗi lần đưa tiễn người thân vào lửa đạn…

Nỗi lòng thầy u tôi mỗi lần đưa tiễn người thân vào lửa đạn…

Những ngày tháng qua, toàn Đảng, toàn quân, cả hệ thống chính trị và toàn dân đồng tâm, trách nhiệm tổ chức nhiều hoạt động tri ân, đền ơn đáp nghĩa, đặc biệt đã triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính các Anh hùng liệt sĩ.

Đảm bảo an ninh dữ liệu trong kỷ nguyên số

Đảm bảo an ninh dữ liệu trong kỷ nguyên số

Hồ sơ dự án Luật An ninh dữ liệu đang được Bộ Công an tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Dự án luật được xây dựng và ban hành sẽ tạo hành lang pháp lý toàn diện bảo đảm an ninh dữ liệu trong kỷ nguyên số.

Đà Nẵng hiện thực hóa mục tiêu "Điểm đến sự kiện và lễ hội hàng đầu châu Á"

Đà Nẵng hiện thực hóa mục tiêu "Điểm đến sự kiện và lễ hội hàng đầu châu Á"

Sau thành công vang dội của Lễ hội pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng 2026 (DIFF 2026), Đà Nẵng tiếp tục khởi công Sun Galaxy Complex - tổ hợp lễ hội, sự kiện, văn hóa và giải trí quy mô quốc tế đầu tiên với tổng vốn đầu tư gần 10.750 tỷ đồng. Công trình được kỳ vọng trở thành biểu tượng mới bên sông Hàn, tạo động lực phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm và khẳng định vị thế điểm đến sự kiện, lễ hội hàng đầu châu Á.