Hai loại nước trong cùng một trận mưa
Nhìn kỹ, trong một trận mưa như thế có hai loại nước. Một loại là nước trời - lượng mưa mà không thành phố nào trên thế giới có thể ngăn. Loại kia là nước của lịch sử: nước không có chỗ thấm vì ao hồ đã bị san lấp, nước không có chỗ chảy vì hệ thống thoát nước được thiết kế cho một kịch bản khí hậu đã cũ, nước không có chỗ trú vì hồ điều hòa trên giấy còn chưa thành hồ ngoài đời. Loại nước thứ hai không rơi từ trên xuống. Nó tích tụ từ hàng chục năm quyết định quy hoạch, từng quyết định đều có lý do hợp lý vào thời điểm đưa ra, và cộng lại thành một khoản nợ mà mỗi mùa mưa đến đòi.
Vì vậy, câu hỏi mà bài viết này muốn đặt ra không phải "mưa bao nhiêu" mà là "thành phố được quy hoạch cho tầm nhìn bao xa, và ai chịu hậu quả khi tầm nhìn ấy sai".
Ở góc nhìn về khoản nợ hạ tầng và quy trình "khóa lộ trình", các con số do chính cơ quan quản lý Thủ đô công bố nói rõ khoản nợ ấy lớn đến đâu. Trả lời chất vấn HĐND thành phố dịp tháng 7/ 2026, Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội cho biết hệ thống thoát nước hiện mới đáp ứng khoảng 20% công suất theo yêu cầu; hệ thống hồ điều hòa và các công trình thoát nước mới được đầu tư khoảng 20%; riêng diện tích hồ điều hòa mới đạt khoảng 18% so với quy hoạch. Còn theo Bộ Xây dựng, tính đến năm 2025, hệ thống thoát nước của Hà Nội chỉ giải quyết được lượng mưa 310 mm trong hai ngày - trong khi mùa mưa 2025, hoàn lưu bão có thời điểm trút xuống 500–600 mm trong cùng khoảng thời gian, làm xuất hiện khoảng 220 điểm ngập.
Các phương tiện di chuyển khó khăn qua những đoạn đường bị ngập sâu sau cơn mưa. Ảnh: Bảo Châu
Đằng sau những tỷ lệ phần trăm ấy là một quy luật mà khoa học chính sách công gọi tên từ lâu: quy luật phụ thuộc lộ trình (path dependency). Nhà kinh tế học W.Brian Arthur và nhà chính trị học Paul Pierson đã chứng minh rằng với hạ tầng và thể chế, những lựa chọn ban đầu tạo ra "lợi suất tăng dần": càng đi theo một hướng, chi phí đổi hướng càng lớn, và hệ thống bị khóa chặt vào con đường đã chọn ngay cả khi con đường ấy không còn tối ưu. Một cái cống đặt xuống hôm nay quy định cao độ nền của cả khu phố trong năm mươi năm. Một ao làng bị lấp để phân lô hôm nay không bao giờ có thể đào lại, vì trên đó đã có nhà, có sổ đỏ, có cuộc sống. Một khu đô thị mới nâng nền cao để tự bảo vệ mình hôm nay sẽ đẩy nước sang khu thấp hơn trong mọi trận mưa về sau.
Hà Nội đã đi trên con đường ấy nhiều thập kỷ. Có chuyên gia quy hoạch từng ước tính, trong nửa thế kỷ, khoảng 80% diện tích mặt nước của Thủ đô đã "biến mất". Chỉ riêng sáu quận trung tâm, từ 2010 đến 2015, mặt nước ao hồ đã giảm thêm hơn 72.000 mét vuông. Mỗi mét vuông ấy khi bị lấp đều mang lại lợi ích tức thời cho một số ít người, còn chi phí thì trải đều lên toàn thành phố, kéo dài qua nhiều thế hệ và chỉ hiện ra khi trời mưa. Đó chính là bản chất của "nợ hạ tầng": lợi ích được tư nhân hóa ngay lập tức, thiệt hại được xã hội hóa từ từ.
Ngập lụt không phải là tai nạn của quy hoạch. Ngập lụt là bản kê khai chậm của những gì quy hoạch đã bỏ qua.
Thành phố xây cho khí hậu của ngày hôm qua và những thành phố đã học được cách đặt câu hỏi khác
Nếu chỉ có khoản nợ cũ, bài toán còn có thể tính được bằng tiền và thời gian. Nhưng một quy luật mới đang làm khoản nợ ấy tự sinh lãi. Vật lý khí quyển cho biết không khí ấm hơn giữ được nhiều hơi nước hơn; theo Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), các đợt mưa ngày cực đoan được dự tính mạnh thêm khoảng 7% cho mỗi một độ C ấm lên toàn cầu. Điều đó có nghĩa là mọi tiêu chuẩn thiết kế dựa trên thống kê mưa của quá khứ - như mức 310 mm trong hai ngày được xác lập hơn một thập kỷ trước - đang lặng lẽ trở nên lạc hậu ngay cả khi công trình thoát nước chưa xây xong. Chúng ta có nguy cơ xây một thành phố cho khí hậu của ngày hôm qua.
Hai quy luật ấy - khóa lộ trình của thể chế và gia tăng cực đoan của khí hậu - gặp nhau ở một điểm nguy hiểm: cái cũ khó sửa, cái mới khó đoán. Thành phố nào chỉ giải quyết mùa mưa này bằng máy bơm và bao cát sẽ luôn chậm hơn thời tiết một bước. Thành phố nào coi mỗi trận ngập là dữ liệu để sửa lại tầm nhìn quy hoạch thì mới có cơ may đi trước.
Kinh nghiệm quốc tế không cho ta công trình để sao chép, mà cho ta cách đặt vấn đề để học. Copenhagen chỉ thay đổi sau khi phải trả giá: trận mưa cực đoan ngày 2/7/2011 trút khoảng 150 mm trong chừng hai giờ, thiệt hại ước tính 5-6 tỷ krone. Một năm sau, thành phố ban hành Kế hoạch quản lý mưa cực đoan, và điều đáng chú ý không nằm ở số tiền, mà ở chỗ họ không chỉ làm cống to hơn: đường phố, công viên, quảng trường được tổ chức lại để khi cống quá tải, nước vẫn có nơi chứa và nơi tạm trú, gây thiệt hại ít nhất. Rotterdam đưa tư duy ấy vào từng mét vuông: quảng trường Benthemplein ngày nắng là sân thể thao, ngày mưa lớn là ba bể chứa giữ khoảng 1,7 triệu lít nước.
Người dân di chuyển khó khăn qua tuyến đường bị ngập sâu. Ảnh: Bảo Châu
Singapore đi xa hơn một bước - biến tư duy thành nghĩa vụ pháp lý: mọi dự án xây mới hoặc tái phát triển từ 0,2 hecta trở lên phải có biện pháp làm chậm dòng chảy bề mặt và giảm lưu lượng đỉnh xả vào hệ thống công cộng. Nghĩa là mỗi chủ đầu tư phải gánh một phần trách nhiệm về nước ngay tại nơi mình xây, thay vì chỉ "đấu nối vào mạng lưới chung" rồi coi phần còn lại là việc của Nhà nước.
Nhưng cũng cần nhìn cả những cảnh báo. Trịnh Châu (Trung Quốc) là thành phố thí điểm của chương trình "thành phố bọt biển" quốc gia, đã xóa được hơn một trăm điểm ngập; vậy mà ngày 20/7/2021, khi 201,9 mm mưa trút xuống trong một giờ, thành phố vẫn chìm trong nước. Ở chiều ngược lại, vùng thủ đô Tokyo cho thấy hạ tầng kỹ thuật quy mô lớn vẫn là lớp phòng vệ không thể thiếu: kênh thoát nước ngầm ở Saitama dài 6,3 km, sâu khoảng 50 m, bơm tối đa 200 mét khối mỗi giây. Bài học không phải "xanh" hay "xám", mà là hạ tầng xanh và hạ tầng xám phải bổ trợ nhau, và cả hai đều phải được thiết kế cho câu hỏi: công trình này sẽ làm gì khi trận mưa vượt ngưỡng thiết kế?
Từ chống ngập sang quản trị nước: điều kiện thể chế
Công bằng mà nói, Hà Nội đã bắt đầu đổi cách đặt câu hỏi. Thành phố đã phê duyệt danh mục 3.501 hồ, ao, đầm không được san lấp; đã đưa cách tiếp cận "thành phố bọt biển" vào đề án chống ngập 2026–2030; đã triển khai các công trình khẩn cấp gồm hồ điều hòa và dự án thoát nước, tác động trực tiếp đến khoảng 120 điểm ngập; đã chủ động hạ mực nước đệm, xây dựng kịch bản theo cường độ mưa. Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm định hướng nâng tổng diện tích hồ điều hòa lên hơn 8.000 hecta và lần đầu nghiên cứu đồng bộ hạ tầng kỹ thuật ngầm. Quy hoạch thoát nước và thoát nước thải dự kiến được phê duyệt, công bố công khai ngay trong tháng 9 này. Chuyển từ phản ứng sau ngập sang chuẩn bị trước mưa là bước chuyển đúng.
Nhưng một tầm nhìn 100 năm chỉ có giá trị khi nó được bảo vệ trước những tính toán 5 năm. Ở đây, ba điều kiện thể chế cần được đặt lên bàn.
Thứ nhất, danh mục hồ ao không được san lấp phải trở thành ranh giới không thể thương lượng của quy hoạch, chứ không phải một phụ lục có thể "điều chỉnh" theo từng dự án. Kinh nghiệm cho thấy nạn lấn chiếm ao hồ nguy hiểm nhất không ở chỗ lấn chiếm trái phép, mà ở chỗ có thể được hợp thức hóa qua điều chỉnh quy hoạch, biến mặt nước công thành đất tư. Muốn thế, cần cơ sở dữ liệu số về từng hồ ao trên nền bản đồ, công khai để người dân và báo chí cùng giám sát; và cần trách nhiệm cá nhân của người ký quyết định thu hẹp mặt nước - như Nghị quyết Trung ương về xây dựng Đảng đã nhiều lần nhấn mạnh: quyền hạn đến đâu, trách nhiệm đến đó.
Nhiều người điều khiển xe phải giảm tốc độ, dò đường qua những đoạn nước sâu. Ảnh: Bảo Châu
Thứ hai, tiêu chuẩn thiết kế phải được nâng theo kịch bản khí hậu tương lai, không theo thống kê mưa quá khứ, và phải quản lý theo lưu vực chứ không theo địa giới hành chính. Nước không biết ranh giới phường, xã hay dự án. Đề án chống ngập cần lượng hóa mục tiêu giảm số điểm ngập, chiều sâu và thời gian ngập theo từng lưu vực; kết nối dữ liệu mưa, mực nước, trạm bơm và hồ điều hòa thành một hệ thống điều hành duy nhất. Đó là bước tiến từ quản lý công trình sang quản trị rủi ro.
Thứ ba - và đây là điều Singapore thể hiện cho chúng ta rõ nhất - trách nhiệm về nước phải được phân bổ lại về nơi phát sinh. Một khu đô thị mới không thể "xong trách nhiệm" chỉ bằng việc đấu nối vào cống chung. Hà Nội hoàn toàn có thể yêu cầu chủ đầu tư giữ một phần nước tại chỗ, giới hạn lưu lượng xả cực đại, dành tỷ lệ bề mặt thấm nước, bố trí bể ngầm. Mỗi dự án gánh một phần, áp lực cuối đường ống sẽ giảm. Đây không chỉ là kỹ thuật, mà là công bằng: người hưởng lợi từ việc chiếm đất thấp phải trả chi phí cho những người ở chỗ trũng hơn.
Những điều kiện ấy cần tiền, và tiền không dễ. Nhưng những thành phố từng thay đổi cách đặt câu hỏi đều làm vậy sau một trận mưa lớn. Hà Nội vừa có một trận mưa như thế. Câu hỏi là chúng ta sẽ coi nó như một đợt thời tiết đã qua, hay như một bản kê khai mà thành phố phải trả lời trước dân - rằng khoản nợ hạ tầng này sẽ được trả bằng tầm nhìn dài, hay tiếp tục được chuyển sang thế hệ sau, kèm theo lãi mà khí hậu đang cộng thêm mỗi năm.
Mưa rồi sẽ tạnh. Nợ thì không tự rút đi theo nước.