Quy hoạch sông Hồng đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở mà Hà Nội đang tổ chức lấy ý kiến thu hút sự quan tâm rất lớn từ người dân và dư luận. Xung quanh câu chuyện này, PV Báo CAND đã có cuộc trao đổi với KTS Trần Huy Ánh, Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội, về những yêu cầu, nguyên tắc cần đặt ra trong quá trình quy hoạch và phát triển không gian sông Hồng.
PV: Một trong những điểm nhấn của quy hoạch là xác định trục sông Hồng trở thành trục phát triển chiến lược, trung tâm văn hóa, kinh tế, dịch vụ và biểu tượng mới của Hà Nội. Ông nhìn nhận thế nào về định hướng này?
KTS Trần Huy Ánh: Trước hết phải nhận thức rõ rằng quy hoạch sông Hồng nằm trong định hướng tổng thể của Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm. Đây không đơn thuần là công việc riêng của Hà Nội mà là vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với quốc gia và dân tộc.
Chính vì vậy, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW vào ngày 17/3/2026 về “Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới”. Theo tôi, đây chính là kim chỉ nam, là căn cứ quan trọng để định hướng và thực thi quy hoạch sông Hồng.
Điều đáng chú ý, Nghị quyết 02 xác định sông Hồng là trục cảnh quan sinh thái, văn hóa chủ đạo. Cách tiếp cận này cho thấy tư duy mới về vai trò của dòng sông đối với tương lai phát triển của Thủ đô.
Nếu chỉ nhìn sông Hồng như một đại lộ hay một không gian để phát triển các công trình đô thị thì sẽ bỏ qua những giá trị cốt lõi của dòng sông. Muốn phát triển nhanh thì phải dựa vào kinh tế, nhưng muốn phát triển xa thì phải dựa vào văn hóa. Vì thế, sông Hồng trước hết phải được nhìn nhận như một trục cảnh quan sinh thái và văn hóa chủ đạo.
Hà Nội cần bám sát tinh thần của Nghị quyết 02 để các trục không gian mới không tạo ra sự phát triển lệch pha giữa các khu vực, đồng thời cân bằng được yêu cầu phát triển đô thị với bảo tồn di sản và văn hóa.
PV: Như vậy, yếu tố sinh thái phải được đặt ở vị trí nào trong quá trình phát triển không gian sông Hồng, thưa ông?
KTS Trần Huy Ánh: Phải coi không gian sinh thái là nền tảng. Sông Hồng là dòng chảy tự nhiên góp phần hình thành vùng quần cư rộng lớn ở đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình. Qua nhiều thế hệ, dòng sông gắn với sản xuất nông nghiệp, đời sống, cảnh quan và văn hóa của người dân. Với Hà Nội, đây là không gian gắn chặt với quá trình hình thành và phát triển của đô thị.
Trong tầm nhìn 100 năm, vai trò của sông Hồng đã được xác định rõ trong Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị. Quan điểm lấy con người làm trung tâm, đồng thời bảo lưu hệ sinh thái văn hóa của sông Hồng, cần được đặt trong mối liên kết với sông Đuống, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tích, sông Tô Lịch và rừng núi Ba Vì, tạo thành trục xương sống cảnh quan của Thủ đô.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm an toàn trước thiên tai song song với mục tiêu phát triển đô thị. Thực tế cho thấy sông Hồng luôn tiềm ẩn những rủi ro lớn trong mùa lũ. Những trận lũ lớn từng gây nguy hiểm cho người dân và tài sản trên diện rộng. Gần đây nhất, như chúng ta thấy, tác động của bão Yagi tiếp tục cho thấy những thách thức đối với Hà Nội, dù mức độ ảnh hưởng vẫn chưa thể so sánh với trận lũ năm 1971.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, thách thức không chỉ là lũ lụt mà còn là khô hạn và vấn đề nguồn nước. Vì vậy, khả năng thoát nước nhanh trong mùa lũ và giữ nước trong mùa khô phải được tính toán ngay từ khâu quy hoạch.
PV: Một vấn đề đang được dư luận đặc biệt quan tâm là làm thế nào để chỉnh trang, phát triển hạ tầng ven sông nhưng vẫn bảo đảm lợi ích của cộng đồng dân cư đang sinh sống tại đây?
KTS Trần Huy Ánh: Theo tôi, trước hết phải xuất phát từ quan điểm lấy con người làm trung tâm. Nghị quyết 02 đã xác định mục tiêu xây dựng và phát triển Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển.
Cùng với đó, hành lang sinh thái văn hóa sông Hồng, sông Đuống, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch và rừng núi Ba Vì phải được duy trì và phát triển như khung sinh thái nền tảng của cấu trúc đô thị.
Từ cách tiếp cận này, người dân ven sông phải được bảo đảm không gian sống an toàn, ổn định, sinh kế và an sinh tốt hơn. Lợi ích của quy hoạch không chỉ dành cho khoảng 0,3 triệu cư dân tại chỗ mà còn phải mở rộng tới hàng triệu người dân Thủ đô và khoảng 30 triệu cư dân đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình.
Không gian ven sông không thể chỉ dành cho hạ tầng. Nó còn phải thực hiện chức năng hành lang thoát lũ, bảo tồn hệ sinh thái, trữ nước mùa khô và tạo dựng cảnh quan công cộng.
Tháng 7/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội cũng yêu cầu việc đầu tư cảnh quan sông Hồng phải bảo đảm an toàn phòng, chống lũ, ổn định đê điều, không làm giảm hành lang và không gian thoát lũ đã được phê duyệt.
Đây là nguyên tắc rất quan trọng. Quyết định 257 và Quyết định 429 của Chính phủ về phòng chống lũ và an toàn đê điều hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình đến nay chưa có những văn bản nào thay thế, vì vậy đây vẫn là những căn cứ cần được nghiên cứu trong quá trình tổ chức không gian. Các công trình phải được tính toán trên cơ sở khoa học và thực tiễn, bảo đảm thích ứng với biến đổi khí hậu, vận hành lâu dài, an toàn và bền vững.
PV: Như ông nói, an toàn đê điều và hành lang thoát lũ khi triển khai quy hoạch cũng đang là vấn đề có không ít ý kiến còn nghi ngại. Hà Nội khẳng định sẽ áp dụng các tiêu chuẩn cao nhất để bảo đảm an toàn. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
KTS Trần Huy Ánh: Sự quan ngại của người dân, dư luận là hoàn toàn dễ hiểu. An toàn đê điều và phòng, chống lũ chính là ranh giới sống còn đối với sự ổn định của Thủ đô.
Các văn bản chỉ đạo từ Trung ương đến Hà Nội, cho đến các chỉ tiêu quy hoạch đê điều và phòng, chống thiên tai, đều xác định rõ những giá trị cốt lõi của dòng sông. Trong đó, các vấn đề về mùa lũ, hành lang thoát lũ và an toàn đê điều luôn là nội dung trọng yếu.
Vì vậy, mọi ý tưởng phát triển đều phải đặt trên nền tảng an toàn. Chúng ta có thể bàn về kiến trúc, cảnh quan, hạ tầng hay những mô hình phát triển mới, nhưng không thể đánh đổi an toàn của cộng đồng.
PV: Không chỉ vậy, hai bên bờ sông còn có nhiều khu dân cư hiện hữu, những ngôi làng hàng nghìn năm tuổi và các di tích văn hóa. Đây cũng đang là vấn đề nhận được nhiều ý kiến thảo luận. Theo ông, trong quy hoạch cần ứng xử thế nào với những giá trị này?
KTS Trần Huy Ánh: Khi bàn về quy hoạch sông Hồng, cần làm rõ hai khía cạnh: Giới hạn của pháp luật và tính sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
Về pháp lý, Quy hoạch đê điều và phòng, chống bão lũ theo Quyết định 257 và Quyết định 429 vẫn là những văn bản hiện hành và chưa có văn bản nào thay thế. Vì vậy, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để chúng ta trao đổi.
Hai quyết định này quy định rất cụ thể những gì được làm và không được làm. Không được xây dựng, không phát triển dân cư tại các khu vực bảo vệ. Đối với các khu dân cư hiện hữu, quy định cũng xác định giới hạn tồn tại ở mức 5% hoặc 15%, được thể hiện trong 4 phụ lục tương ứng với từng khu vực.
Do đó, mọi đề xuất quy hoạch hiện nay bắt buộc phải dựa trên cơ sở pháp lý hiện có. Khi nào có văn bản pháp lý mới chính thức thay thế Quyết định 257 và 429 thì mới có thể bàn đến những yếu tố mới. Tuy nhiên, trong khuôn khổ pháp luật hiện hành vẫn cần tìm kiếm những giải pháp sáng tạo, phù hợp với yêu cầu phát triển mới.
PV: Còn đối với các di sản văn hoá, các di tích lịch sử sẽ được giữ gìn và bảo tồn thế nào, thưa ông?
KTS Trần Huy Ánh: Di sản không chỉ là những di tích lịch sử hay cảnh quan có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Tôi cho rằng, di sản sâu xa nhất chính là “trí khôn bản địa”.
Đó là khả năng thích ứng của dân tộc ta trước thiên tai, địch họa trong hàng trăm năm. Lịch sử cho thấy, qua biết bao trận lũ lớn và trong điều kiện kinh tế còn thiếu thốn, thiên nhiên khắc nghiệt, các vùng dân cư ven sông vẫn có thể tồn tại. Điều đó thể hiện sự khôn ngoan, kiên cường và trí tuệ mà cha ông để lại.
Khi quy hoạch cho tương lai, chúng ta không được phép bỏ qua những bài học đó. Ngược lại, phải học lại kinh nghiệm lịch sử, tôn trọng và coi đó là tài sản trí tuệ quý giá để thích ứng với những thách thức thiên nhiên trong tương lai. Đây là tài sản cần được giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ sau.
PV: Hiện nay, trong quá trình lấy ý kiến, nhiều người dân bị ảnh hưởng trực tiếp vẫn băn khoăn về phương án di dời, bồi thường, tái định cư. Ông có khuyến nghị gì không?
KTS Trần Huy Ánh: Việc tập hợp và lắng nghe nguyện vọng chính đáng của nhân dân là trách nhiệm của các cơ quan chức năng. Ở góc độ một người quan sát, tôi cho rằng nguyện vọng chính đáng của người dân rất đáng tôn trọng, nhưng phải được ứng xử bình đẳng với mọi bên liên quan dưới sự điều chỉnh của pháp luật.
Với những hộ dân sinh sống lâu dài, sở hữu đất đai và tích tụ tài sản hợp pháp, nếu phù hợp với quy định về đê điều thì Quyết định 257 đã phân định khá rõ về tỷ lệ và khả năng tồn tại.
Nhưng với những khu vực nằm trong vùng nguy hiểm sạt lở hoặc vi phạm Luật Đất đai, Luật Đê điều thì dù nguyện vọng của người dân có tha thiết đến đâu, việc xử lý vẫn phải tuân thủ pháp luật. Pháp luật phải được áp dụng công bằng, bình đẳng đối với tất cả mọi người.
Mục tiêu của Đảng và Nhà nước là lấy hạnh phúc của nhân dân làm trung tâm phát triển. Vì vậy, nghiêm túc tuân thủ các quy định về phòng, chống bão lũ không chỉ nhằm bảo vệ tài sản, tính mạng của những hộ dân sống ven sông mà còn là bảo vệ an nguy của toàn thể cộng đồng trước nguy cơ thiên tai, bão lũ.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!