Bẻ gãy cuộc rút lui chiến lược từ Tây Nguyên xuống đồng bằng

Sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ 4 ngày, tại Cam Ranh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu triệu tập một cuộc họp tướng lĩnh cao cấp của quân đội Sài Gòn gồm Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên - Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Trung tướng, Cố vấn an ninh Đặng Văn Quang và Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn 2 Phạm Văn Phú. Tại cuộc họp này, tướng Phú báo cáo tình hình chiến sự Tây Nguyên đang lâm vào tình thế bi đát, rồi xin tăng viện máy bay, xe tăng, bọc thép và binh lính để phản kích, nhưng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chối và gượng gạo ra lệnh rút quân khỏi Tây Nguyên để thực hiện ý đồ co cụm chiến lược cố thủ đồng bằng duyên hải.

Nghe Đại tướng Cao Văn Viên bày tỏ lo ngại khi nhìn lại thảm họa đã xảy ra đối với Binh đoàn cơ động số 100 của quân viễn chinh Pháp trên đường 19 năm 1954, Thiệu và các tướng lĩnh quyết định rút quân theo đường số 7. Cuộc rút lui giao cho Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm – Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 đảm trách. 

Chuẩn tướng Phạm Duy Tất – Tư lệnh Biệt động quân trực tiếp chỉ huy hành quân, Chuẩn tướng Không quân Phạm Ngọc Sang điều động máy bay vận tải hàng hóa di tản và máy bay oanh tạc mở đường, Đại tá Lê Khắc Lý – Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 điều công binh sửa chữa cầu đường…để một bộ phận của Quân đoàn 2 cùng 6 Liên đoàn biệt động quân, Liên đoàn 20 công binh, 2 Thiết đoàn xe tăng, 4 Tiểu đoàn pháo binh, 1 Trung đoàn hậu cứ 40 và ba Tiểu khu Gia Lai, Kon Tum, Phú Bổn rút quân.

Những cán bộ chủ chốt trong Sở Chỉ huy tiền phương Phú Yên sau khi tham gia bẻ gãy cuộc rút lui chiến lược của địch.
Những cán bộ chủ chốt trong Sở Chỉ huy tiền phương Phú Yên sau khi tham gia bẻ gãy cuộc rút lui chiến lược của địch.

Đại tá Trần Văn Mười – một trong những nhân chứng lịch sử, sau nay là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Yên nhớ lại: “Do đoán biết ý đồ của địch, Quân ủy Trung ương chỉ thị Sở chỉ huy tiền phương Phú Yên triển khai phương án phối hợp bộ đội chủ lực truy chặn, bẻ gãy cuộc rút lui chiến lược của địch. 8h sáng 17/3/1975, Sở chỉ huy tiền phương Phú Yên nhận được chỉ đạo của Tư lệnh Quân khu 5 quyết tâm không để cho địch xuống tới đồng bằng Tuy Hòa, nên điều động bộ đội Tiểu đoàn 96 hành quân lên Củng Sơn, huyện Sơn Hòa nối liên lạc với Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 đang truy kích địch”.

Tại cuộc họp Sở chỉ huy tiền phương Phú Yên tổ chức ở núi Hương, xã Hòa Mỹ, huyện Tuy Hòa 1 do đồng chí Nguyễn Duy Luân – Bí thư Tỉnh ủy và Đại tá Ông Văn Bưu, Tỉnh đội trưởng Phú Yên chủ trì đã phán đoán: sau khi rút trên đường 7 qua khỏi Củng Sơn, bị bộ đội Tiểu đoàn 96 chặn đánh, địch sẽ vượt sông Ba sang đường 5 thuộc huyện Tuy Hòa 1, vì trước đó chúng đã tăng cường trọng pháo lên cứ điểm Hòn Kén ở Sơn Thành, mở đường từ đèo Giấy sang núi Mái Nhà và đưa phà ra sông Ba. 

Chính vì vậy, đêm 18/3/1975, Tiểu đoàn 13 và du kích địa phương được lệnh tập kích cứ điểm Cầu Cháy nằm giữa địa phận xã Hòa Mỹ và Hòa Đồng - nơi Đại đội 4, Tiểu đoàn 236 và 3 Trung đội thám báo, thông tin và hỏa lực mạnh của địch đang đóng quân; Tiểu đoàn 9 và các đại đội đặc công 203, 25, 377 ngược đường 5 lên cứ điểm Hòn Kén, Hòn Sặc chặn đánh địch từ Tây Nguyên xuống và khống chế địch chi viện từ thị xã Tuy Hòa lên. Đến chiều 19/3/1975, bộ đội và du kích đã xóa sổ các cứ điểm của địch ở 5 xã thuộc huyện Tuy Hòa 1, làm chủ hơn 10km trên đường số 5.

Mặc dù đã bị Sư đoàn 320 chặn đánh tơi tả ở Cheo Reo, gần một vạn binh lính, sĩ quan địch thương vong, trên 500 xe quân sự phá hỏng, nhưng trưa 19/3/1975, hơn hai vạn quân địch và gần 2.000 xe quân sự, chủ yếu là xe tăng bọc thép vẫn tìm cách rút lui xuống đồng bằng.

Hàng trăm xe quân sự của địch cùng xe dân sự ùn tắc trên đường 7.
 Hàng trăm xe quân sự của địch cùng xe dân sự ùn tắc trên đường 7.

Do phán đoán đúng tình hình, nên khi địch bắc cầu dã chiến cho mũi quân đầu tiên với 5 xe bọc thép vượt sông Nhau từ Củng Sơn sang đường 5 đã bị bộ đội ta chặn đánh tại Trường Lạc, xã Sơn Thành, huyện Tuy Hòa 1 ngay trong buổi chiều hôm đó. 5 ngày tiếp theo, bộ đội ta mai phục đánh địch trên đường 5 từ Gò Mầm, Phú Thứ lên Đồng Bò, Lương Phước khiến cho hàng ngàn xe quân sự dồn lại ở Củng Sơn, Hòn Kén, binh lính địch hoang mang, lo sợ.

Để giải cứu tình thế, Tỉnh trưởng tỉnh Phú Yên Vũ Quốc Gia huy động Liên đoàn 924 và Tiểu đoàn 236 mở các cuộc phản kích. Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 2 điều máy bay phản lực A37 và trực thăng giội bom, đạn xuống đường 5. Một số chiến sĩ của ta bị thương vong, nhiều vùng quê bị cày xới, nhưng người dân vẫn hối hả tải đạn lên phía trước, đưa thương binh về tuyến sau, góp phần cùng bộ đội và du kích chống trả kiên cường. Đạn cối, DKZ của bộ đội vẫn giội lửa vào xe tăng M41, M48, hỗ trợ bộ đội xông lên làm chủ trận địa đường 5, chặn đứng cuộc rút lui của địch. Trong cảnh hỗn loạn, xe tăng, bọc thép của địch mở đường máu tháo chạy, nhưng bộ đội ta truy kích quyết liệt.

Tại tiêu điểm núi Một, thị trấn Củng Sơn, hơn 30 xe tăng, bọc thép của địch co cụm vào chiều 25/3/1975 đã bị bộ đội tiểu đoàn 96 bao vây tiêu diệt. Chiến thắng núi Một và những trận đánh quyết tử trên đường 5 không chỉ bẻ gãy cuộc rút lui chiến lược của địch từ Tây Nguyên về đồng bằng, mà còn tạo đà cho quân giải phóng đánh chiếm thị xã Tuy Hòa sáng 1/4/1975. 

Khi bộ đội tiến công vào thị xã Tuy Hòa, chiếc máy bay trực thăng của địch ở tỉnh đường Phú Yên bị đạn pháo của ta phá hỏng, Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm và Đại tá Vi Văn Bình cải trang thường dân, lội qua sông Đà Rằng tìm đường chạy trốn, nhưng đã bị dân quân huyện Tuy Hòa 1 vây bắt vào sáng 2/4/1975.

Khi nói đến chiến thắng bẻ gãy cuộc rút lui chiến lược của địch từ Tây Nguyên về đồng bằng trên đường số 7, nhiều tướng lĩnh của địch phải thú nhận đó là cuộc rút quân bi thảm nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, không chỉ dẫn đến chết chóc tang thương hàng ngàn binh lính, sĩ quan mà còn góp phần nhanh chóng gây sụp đổ chế độ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ 4 ngày, tại Cam Ranh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu triệu tập một cuộc họp tướng lĩnh cao cấp của quân đội Sài Gòn gồm Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên - Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Trung tướng, Cố vấn an ninh Đặng Văn Quang và Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn 2 Phạm Văn Phú. 

Tại cuộc họp này, tướng Phú báo cáo tình hình chiến sự Tây Nguyên đang lâm vào tình thế bi đát, rồi xin tăng viện máy bay, xe tăng, bọc thép và binh lính để phản kích, nhưng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chối và gượng gạo ra lệnh rút quân khỏi Tây Nguyên để thực hiện ý đồ co cụm chiến lược cố thủ đồng bằng duyên hải.

Nghe Đại tướng Cao Văn Viên bày tỏ lo ngại khi nhìn lại thảm họa đã xảy ra đối với Binh đoàn cơ động số 100 của quân viễn chinh Pháp trên đường 19 năm 1954, Thiệu và các tướng lĩnh quyết định rút quân theo đường số 7. Cuộc rút lui giao cho Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm – Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 đảm trách. Chuẩn tướng Phạm Duy Tất – Tư lệnh Biệt động quân trực tiếp chỉ huy hành quân, Chuẩn tướng Không quân Phạm Ngọc Sang điều động máy bay vận tải hàng hóa di tản và máy bay oanh tạc mở đường, Đại tá Lê Khắc Lý – Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 điều công binh sửa chữa cầu đường…để một bộ phận của Quân đoàn 2 cùng 6 Liên đoàn biệt động quân, Liên đoàn 20 công binh, 2 Thiết đoàn xe tăng, 4 Tiểu đoàn pháo binh, 1 Trung đoàn hậu cứ 40 và ba Tiểu khu Gia Lai, Kon Tum, Phú Bổn rút quân.

Quân địch bắc cầu phao vượt qua sông Ba trong cảnh hoảng loạn.
Quân địch bắc cầu phao vượt qua sông Ba trong cảnh hoảng loạn.

Đại tá Trần Văn Mười – một trong những nhân chứng lịch sử, sau nay là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Yên nhớ lại: “Do đoán biết ý đồ của địch, Quân ủy Trung ương chỉ thị Sở chỉ huy tiền phương Phú Yên triển khai phương án phối hợp bộ đội chủ lực truy chặn, bẻ gãy cuộc rút lui chiến lược của địch. 8h sáng 17/3/1975, Sở chỉ huy tiền phương Phú Yên nhận được chỉ đạo của Tư lệnh Quân khu 5 quyết tâm không để cho địch xuống tới đồng bằng Tuy Hòa, nên điều động bộ đội Tiểu đoàn 96 hành quân lên Củng Sơn, huyện Sơn Hòa nối liên lạc với Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 đang truy kích địch”.

Tại cuộc họp Sở chỉ huy tiền phương Phú Yên tổ chức ở núi Hương, xã Hòa Mỹ, huyện Tuy Hòa 1 do đồng chí Nguyễn Duy Luân – Bí thư Tỉnh ủy và Đại tá Ông Văn Bưu, Tỉnh đội trưởng Phú Yên chủ trì đã phán đoán: sau khi rút trên đường 7 qua khỏi Củng Sơn, bị bộ đội Tiểu đoàn 96 chặn đánh, địch sẽ vượt sông Ba sang đường 5 thuộc huyện Tuy Hòa 1, vì trước đó chúng đã tăng cường trọng pháo lên cứ điểm Hòn Kén ở Sơn Thành, mở đường từ đèo Giấy sang núi Mái Nhà và đưa phà ra sông Ba. 

Chính vì vậy, đêm 18/3/1975, Tiểu đoàn 13 và du kích địa phương được lệnh tập kích cứ điểm Cầu Cháy nằm giữa địa phận xã Hòa Mỹ và Hòa Đồng - nơi Đại đội 4, Tiểu đoàn 236 và 3 Trung đội thám báo, thông tin và hỏa lực mạnh của địch đang đóng quân; Tiểu đoàn 9 và các đại đội đặc công 203, 25, 377 ngược đường 5 lên cứ điểm Hòn Kén, Hòn Sặc chặn đánh địch từ Tây Nguyên xuống và khống chế địch chi viện từ thị xã Tuy Hòa lên. Đến chiều 19/3/1975, bộ đội và du kích đã xóa sổ các cứ điểm của địch ở 5 xã thuộc huyện Tuy Hòa 1, làm chủ hơn 10km trên đường số 5.

Mặc dù đã bị Sư đoàn 320 chặn đánh tơi tả ở Cheo Reo, gần một vạn binh lính, sĩ quan địch thương vong, trên 500 xe quân sự phá hỏng, nhưng trưa 19/3/1975, hơn hai vạn quân địch và gần 2.000 xe quân sự, chủ yếu là xe tăng bọc thép vẫn tìm cách rút lui xuống đồng bằng. Do phán đoán đúng tình hình, nên khi địch bắc cầu dã chiến cho mũi quân đầu tiên với 5 xe bọc thép vượt sông Nhau từ Củng Sơn sang đường 5 đã bị bộ đội ta chặn đánh tại Trường Lạc, xã Sơn Thành, huyện Tuy Hòa 1 ngay trong buổi chiều hôm đó. 

5 ngày tiếp theo, bộ đội ta mai phục đánh địch trên đường 5 từ Gò Mầm, Phú Thứ lên Đồng Bò, Lương Phước khiến cho hàng ngàn xe quân sự dồn lại ở Củng Sơn, Hòn Kén, binh lính địch hoang mang, lo sợ. Để giải cứu tình thế, Tỉnh trưởng tỉnh Phú Yên Vũ Quốc Gia huy động Liên đoàn 924 và Tiểu đoàn 236 mở các cuộc phản kích. Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 2 điều máy bay phản lực A37 và trực thăng giội bom, đạn xuống đường 5. 

Một số chiến sĩ của ta bị thương vong, nhiều vùng quê bị cày xới, nhưng người dân vẫn hối hả tải đạn lên phía trước, đưa thương binh về tuyến sau, góp phần cùng bộ đội và du kích chống trả kiên cường. Đạn cối, DKZ của bộ đội vẫn giội lửa vào xe tăng M41, M48, hỗ trợ bộ đội xông lên làm chủ trận địa đường 5, chặn đứng cuộc rút lui của địch. Trong cảnh hỗn loạn, xe tăng, bọc thép của địch mở đường máu tháo chạy, nhưng bộ đội ta truy kích quyết liệt.

Tại tiêu điểm núi Một, thị trấn Củng Sơn, hơn 30 xe tăng, bọc thép của địch co cụm vào chiều 25/3/1975 đã bị bộ đội tiểu đoàn 96 bao vây tiêu diệt. Chiến thắng núi Một và những trận đánh quyết tử trên đường 5 không chỉ bẻ gãy cuộc rút lui chiến lược của địch từ Tây Nguyên về đồng bằng, mà còn tạo đà cho quân giải phóng đánh chiếm thị xã Tuy Hòa sáng 1/4/1975. Khi bộ đội tiến công vào thị xã Tuy Hòa, chiếc máy bay trực thăng của địch ở tỉnh đường Phú Yên bị đạn pháo của ta phá hỏng, Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm và Đại tá Vi Văn Bình cải trang thường dân, lội qua sông Đà Rằng tìm đường chạy trốn, nhưng đã bị dân quân huyện Tuy Hòa 1 vây bắt vào sáng 2/4/1975.    

Khi nói đến chiến thắng bẻ gãy cuộc rút lui chiến lược của địch từ Tây Nguyên về đồng bằng trên đường số 7, nhiều tướng lĩnh của địch phải thú nhận đó là cuộc rút quân bi thảm nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, không chỉ dẫn đến chết chóc tang thương hàng ngàn binh lính, sĩ quan mà còn góp phần nhanh chóng gây sụp đổ chế độ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Phan Văn Lương

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.