“Bất chợt mai vàng” - tác phẩm đặc sắc viết về chiến tranh sau đại dịch

Dịch bệnh COVID-19 hoành hành vài năm trước là trạng huống bất thường của cuộc sống con người. Với nhà văn, nhất là những nhà văn cựu binh đi qua chiến tranh thì dịch bệnh là một dịp thúc đẩy họ nhớ lại những năm tháng chiến tranh đã qua. Bởi chiến tranh cũng giống dịch bệnh, đều bất thường, đều đầy nỗi lo lắng khi mạng sống đang yên lành đột nhiên trở nên mong manh không ngờ.

Nhà văn Nguyễn Trí Huân, tác giả của những "Mặt cát", "Năm 1975 họ đã sống như thế", "Dòng sông của Xô nét", "Chim én bay"… sau thời gian dịch bệnh đã trình bạn đọc tác phẩm mới với tên gọi "Bất chợt mai vàng", gồm hai truyện vừa: "Bất chợt mai vàng" và "Con họa mi lông xù vừa bay vừa hót" (NXB Văn học; lưu chiểu quý 3 năm 2023).

1.jpg -0
Nhà văn Nguyễn Trí Huân.

Khi dịch bệnh thúc đẩy kí ức

Không phải đến khi tiểu thuyết "Nỗi buồn chiến tranh" của nhà văn Bảo Ninh, "Bến không chồng" của nhà văn Dương Hướng được xuất bản, nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 thì tâm thức nhìn nhận sâu sắc hơn về chiến tranh mới xuất hiện. Mà trước đó, sau Đổi mới 1986, văn học đã có sự rục rịch chuyển mình, có thể kể đến tiểu thuyết "Thời xa vắng" của nhà văn Lê Lựu, với nhân vật Giang Minh Sài: "Nửa đời người phải yêu cái người khác yêu, nửa còn lại đi yêu cái mình không có, đến bây giờ mới biết mình như thế nào thì lại…". Đến cuối năm 1987 là bài viết "Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa" của nhà văn Nguyễn Minh Châu in trên tuần Báo Văn nghệ.

Tiếp sau đó cuộc sống xã hội thay đổi, biến chuyển, đề tài chiến tranh cách mạng dần rút lui, nhường chỗ cho các đề tài khác được người viết trẻ lẫn người đọc hiện thời quan tâm hơn như lịch sử, kinh dị, đô thị, tính dục, môi trường, trinh thám… Những nhà văn đi từ rừng ra, trải qua bao cấp dường như không hòa nhập được với cuộc sống văn học mới cởi mở ồn ã, nơi các giá trị dần bị đảo lộn, chi phối bởi nhiều yếu tố. Họ vẫn viết, vẫn ra sách đều, nhưng tác phẩm thường không tạo được tiếng vang, chìm lẫn vào số lượng sách báo ồ ạt ra hàng tuần, hàng tháng. Từ đó đã có nhiều nhà văn bỏ cuộc chơi, nhiều nhà văn sống mãi với hào quang quá khứ, nhường diễn đàn văn chương lại cho lứa viết trẻ tiếp sau.

2.jpg -1
Tác phẩm mới của nhà văn Nguyễn Trí Huân.

Nhà văn Nguyễn Trí Huân sau tiểu thuyết "Chim én bay", xuất bản lần đầu năm 1988, Giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm (1985-1989) Bộ Quốc phòng, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1988-1989 dần cũng im lặng trước thời cuộc, bận rộn với công việc quản lý ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội cũng như Báo Văn nghệ, Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm sau này. Tập sách ông ra gần đây nhất cũng đã gần hai chục năm, là tập ký "Dấu thời gian" năm 2004.

Cho đến vài năm trước, khi dịch bệnh COVID-19 xảy ra, đối diện với hoàn cảnh sống có phần nào đấy giống thời chiến, khi tất cả đều bị kiểm soát, từ đi lại đến phân phối nhu yếu phẩm - thì những kí ức tưởng ngủ quên được đánh thức dậy. Cả hai truyện vừa "Bất chợt mai vàng" và "Con họa mi lông xù vừa bay vừa hót" trong tập đều đặt hệ thống nhân vật chính phụ vào trong tình huống dịch bệnh những ngày căng thẳng nhất. Bà Luyến, vợ ông Kháng, người chị dâu của nhân vật tôi (người kể chuyện trong "Bất chợt mai vàng") ốm nặng trong những ngày dịch bệnh cận tết ta khi sắp thượng thọ chín mươi tuổi, bên cạnh là con cháu thay nhau test COVID-19 hằng ngày và đeo khẩu trang. Tướng Phong ở trong "Con họa mi lông xù vừa bay vừa hót" cũng chết vì dịch bệnh, khi bên cạnh không có ai, hơn mười ngày nhốt mình trong nhà tự điều trị và ra đi mãi mãi, quyết không tiêm vắc xin Trung Quốc.

Trở lại với vấn đề viết về chiến tranh ở thời điểm sau dịch bệnh làm sao vượt được bóng của những tác phẩm đi trước, không lặp lại. Con đường nhà văn Nguyễn Trí Huân chọn đó là tiếp cận chiến tranh như nó diễn ra, dưới cái nhìn thấu suốt, có đúng có sai, có chiến công cũng như đau thương mất mát, có màu hồng và cũng có cả màu đen nữa. Đồng thời cân bằng giữa kí ức chiến tranh và đời sống hiện tại. Phần kí ức chiến tranh có thể hiểu là phần xương khung, phần đời sống hiện tại là phần da thịt đắp vào bên ngoài. Các tác phẩm viết về chiến tranh trước đây thành công được là do phần da thịt cân xứng với phần xương bên trong, khi đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, mỗi con người trở về, mỗi con người chờ đợi đều là một câu chuyện xứng đáng được nói đến. Nhưng càng lùi xa khỏi cuộc chiến, đất nước càng phát triển đi lên, nghịch lý thay phần da thịt lại có phần bợt bạt đi so với phần xương vững chắc bên trong.

Tác phẩm "Bất chợt mai vàng" đã tạo ra được cả hai phần khung xương và da thịt tương ứng. Bởi chỉ có giữa sống chết con người mới thể hiện được hết bản chất thật của mình. Chỉ có sự xáo động khôn cùng của đời sống hiện tại mới kéo được quá khứ sống động thức dậy.

Đúng và sai ở riêng mỗi góc nhìn, mỗi thời điểm

Ông Tuân trong truyện "Bất chợt mai vàng" đúng với dòng họ khi ông là con độc đinh; vào trận ông luôn hèn nhát, sợ chết tìm cớ thoái thác để được ở lại tuyến sau, được trở về, thậm chí tìm cách đào ngũ để có thể giữ cho dòng họ một mụn con trai nối dõi. Nhưng ở phía đồng đội thì ông sai khi đã gián tiếp gây ra cái chết cho Kháng, người thay ông đi đánh trận phủ đầu giặc Mỹ khi chúng đang tập hợp máy bay, xe bọc thép tại sân bay Đà Nẵng chuẩn bị cho một trận càn lớn. Sai cả với gia đình ông Kháng nữa, vì sự khôn lỏi của ông mà mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất bố, em mất anh. Với anh em đơn vị thì vì ông đào ngũ mà rất lâu sau đơn vị mới được công nhận anh hùng.

Tướng Phong trong truyện "Con họa mi lông xù vừa bay vừa hót" ngược lại với ông Tuân. Ông sai với dòng họ, bao năm không dám về làng, bởi chính ông trong cải cách ruộng đất đã đấu tố bà Thuộc cô ruột của mình đến câm. Trong khi chính bà là người đã đút tiền cho lính gác để lấy thủ cấp của bố mẹ ông về chôn cùng thân, nuôi giấu ông cùng đồng đội hoạt động đánh Pháp trong chính ngôi nhà của mình. Rồi ông còn nghe xúi giục tuyên bố từ bỏ giai cấp địa chủ, phong kiến, từ bỏ cô ruột đến dòng họ có nhiều tên phản quốc. Máu nóng trong anh chàng mười sáu tuổi hăng say cách mạng khiến ông không nghĩ đến hậu quả sau này. Dòng họ Phạm làng Hạ xóa tên ông trong gia phả từ ngày đó.

Còn với cách mạng ngược lại ông là người có nhiều thành tích. Trong cải cách ông đã giúp nhiều người nghèo trong làng trong tổng có ruộng cày, có nhà ở khang trang. Sau này vào lính ông cũng gan dạ lập nhiều chiến công. Hòa bình về công tác tại thành phố ông cũng giúp nhiều người có năng lực được nhận vào làm không phải quà cáp biếu xén gì. Ở khu tập thể ông ở ông cũng giúp được nhiều người khi ốm đau hoạn nạn. Tất cả mọi người đã gặp sau này đều coi ông là người tốt, nhưng người trong họ ông ở phần đời trước cải cách ruộng đất thì không. Như khi còn chiến tranh được ra Bắc báo cáo điển hình về thành tích đánh Mỹ ông có cùng anh Dung Chủ tịch tỉnh (người quen từ thời kháng Pháp) về làng thì nhận được sự lạnh nhạt của người cùng tông tộc, họ còn chẳng nể nang, nói thẳng toẹt: "Đến tổ tiên, dòng họ nó còn từ bỏ thì anh hùng cái nỗi gì". Sau này thi thoảng nhớ quá ông cũng tìm về làng Hạ, nhưng là về giữa đêm để thắp hương cho bố mẹ, cho cô Thuộc rồi đi ngay để tránh gặp người. Ngay cả khi ông chết, ông trưởng họ xin âm dương mấy lần không được, người trần đã tha thứ cho ông, nhưng người âm thì vẫn chưa buông bỏ.

Có thể nói tác phẩm "Bất chợt mai vàng" của nhà văn Nguyễn Trí Huân đã soi chiếu được cả cái tốt lẫn cái xấu của người lính trong và sau chiến tranh mà không lên gân, không tuyên truyền, để cho câu chuyện của nhân vật tự dẫn dắt. Ông Tuân đã đào ngũ, nhưng khi nghĩ lại sự hy sinh của người bạn cùng quê đã quay lại đầu thú trước một đơn vị bộ đội địa phương, chịu giam giữ cải tạo lao động trong ba năm rồi trả về địa phương. Chính ông Tuân là người gửi chậu mai vàng cho bà Luyến vợ ông Kháng như lời xin lỗi nhưng giấu tên. Ông tướng Phong thì luôn nghe ngóng tin tức về bà cô Thuộc. Sẵn sàng giúp đỡ mẹ con người phụ nữ không quen chỉ vì họ có từng quen cô ông, và được cô dạy món cháo xe bí truyền. Ông Phong cũng không vượt qua lằn ranh với người đàn bà vợ của chính ủy, đồng đội của ông. Tất cả nhân vật trong truyện đều đáng thương, cả đáng trọng nữa, vì họ luôn biết mình sai lầm trong quá khứ, giờ họ sống ở hiện tại thật tử tế để cứu chuộc chuyện từ những ngày xưa.

Đinh Phương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).