Bảo Đại - vị vua cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn

NXB Đà Nẵng vừa ấn hành cuốn "Giai thoại và sự thật về Bảo Đại - Vua cuối cùng triều Nguyễn" của tác giả Lý nhân Phan Thứ Lang. Tác giả đã tập hợp tư liệu trong và ngoài nước, kể cả ghi chép của những người thân cận và hồi ký "Le Dragon d'Annam" của chính Bảo Đại, để cố gắng dựng lại bức chân dung, nhân cách và sự nghiệp của vị Hoàng đế cuối cùng ở nước ta.

Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy sinh ngày 22/10/1913, khi 9 tuổi đã được Khâm sứ Huế là Charles nhận làm con nuôi và đưa sang Pháp học "nghề làm vua" tại trường chuyên ngành khoa học chính trị Lycée Condoreet puis Sciences Politique ở Paris. Cuối năm 1925, vua Khải Định băng hà, ngày 8/1/1926 triều đình đưa Vĩnh Thụy lên ngôi. Sau khi làm lễ đăng quang và an táng vua cha, Bảo Đại trở lại Pháp tiếp tục học tập, còn mọi việc trong nước giao cho Hội đồng Phụ Chánh, do quan Đại thần Nguyễn Hữu Bài đứng đầu, điều hành. Tuy nhiên, trên thực tế mọi việc đều do người Pháp sắp đặt và cai trị, còn chính phủ Nam triều chỉ đóng vai trò thừa hành.

Từ giữa những năm 20 trở đi, ở nước ta nhiều đảng ái quốc ra đời, lập chiến khu, dấy lên các phong trào chống thực dân Pháp. Trước tình thế đó, vào mùa hè năm 1932, Pháp buộc phải đưa Bảo Đại về nước với hy vọng ông đã học xong trường cao đẳng chính trị, vị vua trẻ mang phong cách và văn minh Phương Tây về nước có thể thu phục được các tầng lớp thanh niên, nhất là đội ngũ trí thức, làm nguội dần các phong trào chống Pháp. Đầu tháng 9/1932 về tới Huế, ngay lập tức Bảo Đại ra mắt quần thần, ngỏ lời cùng quốc dân, đưa ra nhiều lời hứa, mong muốn cải cách, xây dựng một đất nước văn minh.

Quả thực, sau 10 năm ăn học ở Pháp, hấp thụ lối sống Phương Tây, Bảo Đại đã cho bỏ những tập tục, lễ nghi cổ truyền mà các vua cha bày ra. Trước hết ông ban sắc dụ từ nay Hoàng thượng tới đâu, thần dân không phải quỳ lạy, có thể ngẩng đầu chiêm ngưỡng long nhan đức vua mà không sợ phạm thượng, các quan cũng không phải quỳ lạy mỗi khi vào chầu. Làm như vậy thực ra Bảo Đại nhằm tới hai mục đích: Thứ nhất, để tỏ ra là một nhà vua tiến bộ, bình dân, tôn trọng những người lớn tuổi đáng bậc cha chú, nếu cứ bắt họ phủ phục mỗi khi vào chầu thật khó coi. Thứ hai, nhân dịp này để các quan Tây vào chầu cũng khỏi phải chắp tay xá lạy, mà chỉ cần bắt tay tỏ ý thân thiện theo kiểu Phương Tây.

Bảo Đại và Phan Văn Giáo tại sân bay Đà Lạt (1949).
Bảo Đại và Phan Văn Giáo tại sân bay Đà Lạt (1949).

Tiếp theo, Bảo Đại cải tổ bộ máy hành chính, cho các vị thượng thư già yếu hoặc kém năng lực về hưu. Chẳng hạn như cụ Nguyễn Hữu Bài đã làm thượng thư quá lâu, lại có tư tưởng bài Pháp, nên được nghỉ trước tiên. Đồng thời sắc phong thêm 4 thượng thư mới lựa chọn trong giới hành chính và học giả. Về sau ông còn lập thêm một số bộ và thành lập Viện Dân biểu để trình bày nguyện vọng của dân chúng lên nhà vua và chính phủ Pháp.

Nhà vua cũng cho phép Hội đồng tư vấn Bắc kỳ được thay mặt Nam triều trong việc hợp tác với chính phủ bảo hộ. Trong khi đó Bảo Đại tiến hành các cuộc ngự du, trước hết là bái yết vong linh tiên đế nhà Nguyễn, về Thanh Hoá vinh qui bái tổ, thăm Hà Nội, Sài Gòn, Tây Nguyên và các địa phương khác để nắm được nguyện vọng của thần dân…Có lẽ vì vậy thời đó người ta coi Bảo Đại là "Nhà vua cải cách".

"Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ"

Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp. Quá bất ngờ, Bảo Đại vội vàng tìm một số người ít thân với Pháp trước đây để thành lập nội các mới. Trong vòng từ tháng 4 - 8/1945, nhà vua ủy thác cho Trần Trọng Kim hai lần thành lập nội các thân Nhật. Đây thực chất là những chính phủ bù nhìn, mọi chính sách và hoạt động nhất nhất đều chịu sự giật dây của một Cố vấn tối cao người Nhật Yokoyama.

Lúc đó, khí thế cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đang ào ào dâng lên nên Bảo Đại cũng như cả Hoàng tộc đều vô cùng hoang mang, lo lắng. Cũng dễ hiểu, bởi họ liên tưởng tới một thực tế là Hoàng đế Louis thứ 16 của nước Pháp xưa kia, hay Sa hoàng Nikolas của Nga khi cách mạng nổ ra lật đổ ngai vàng, đã bị xử tử ngay; còn như Phổ Nghi - vị Hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc, sau khi bị hạ bệ cũng phải đi lao động cải tạo nhiều năm, rồi mới được trở về làm công dân cho đến hết đời.

Trong tình hình đó, vua Bảo Đại coi ông Đổng lý văn phòng Phạm Khắc Hoè như một người cộng sự tâm phúc nhất. Quả thực, ông Hoè đã đóng vai trò rất đặc biệt. Ông theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình chiến cuộc giữa quân đồng minh với phe phát xít, bắt liên lạc với các nhà ái quốc để tìm hiểu chủ trương, đường lối của cách mạng, để rồi đưa ra những lời khuyên nhủ khéo léo cho nhà vua cùng Hoàng tộc.--PageBreak--

Thấy nhà vua đã rất nao núng, hoang mang tột độ, ông Hoè buông lời thăm dò xem Bảo Đại có biết lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là ai không, Bảo Đại nói rằng cũng chỉ nghe lơ mơ khi hoạt động tại Pháp cụ Nguyễn Ái Quốc đã viết truyện "Con Rồng Tre" với thâm ý đả kích Khải Định, vua cha của ông. Nhân đó, ông Hoè còn đem chuyện sấm trạng Trình ra kể cho Bảo Đại nghe. Cụ đã từng hoạt động ở Pháp mà danh tiếng đã vang dội về nước. Bảo Đại chẳng cần nghĩ lâu, nói ngay: "Nếu quả người cầm đầu Việt Minh là 'thánh Nguyễn Ái Quốc' thì tôi sẵn sàng thoái vị ngay".

Ngày 22/8/1945, Việt Minh ra tối hậu thư đòi nhà vua phải trao trả chính quyền cho nhân dân và hứa bảo đảm tính mạng, tài sản cho Hoàng gia. Nội các Nam triều họp khẩn cấp và tất cả đều nhất trí đáp ứng mọi điều kiện của Việt Minh. Tuy nhiên, Bảo Đại vẫn còn băn khoăn một điều là: Sao Chủ tịch Chính phủ nhân dân cách mạng lâm thời lại là Hồ Chí Minh, Cụ là ai mà lâu nay không thấy nói đến? Đến khi ông Hoè biết chính xác Hồ Chí Minh chính là cụ Nguyễn Ái Quốc và trình lại với nhà vua, thì Bảo Đại giơ cả hai tay lên trời buột miệng nói tiếng Pháp "Ca vaut bien le coup alors!" (như thế thì thật đáng thoái vị!).

Lễ thoái vị được tổ chức trọng thể trước Ngọ Môn vào ngày 30/8/1945. Một phái đoàn gồm các ông Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận và do ông Trần Huy Liệu dẫn đầu, thay mặt Chính phủ lâm thời từ thủ đô vào nhận ấn kiếm của vua Bảo Đại trao lại. Phát biểu thoái vị trước 50 nghìn đại diện các tầng lớp nhân dân, Bảo Đại dõng dạc tuyên bố: "Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ".

Bảo Đại - vị vua cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn ảnh 2
Bảo Đại trong một quán cà phê ở Paris.

Ngay sau đó, Vĩnh Thuỵ đã được Hồ Chủ tịch mời ra Hà Nội làm cố vấn cho Chính phủ, còn ông Phạm Khắc Hoè được điều động giúp ông Hoàng Minh Giám chăm lo công việc ở Bộ Nội vụ. Được cụ Hồ tiếp đón trọng thị, ân cần thăm hỏi cả mẹ và vợ con, cố vấn Vĩnh Thụy vô cùng xúc động, đã viết thư về cho mẹ là bà Hoàng Thị Cúc, kể lại rằng "Cụ Hồ tốt lắm! Con ra đây được Cụ Hồ thương lắm! Cụ thương con như con! ả (tức mẹ) cứ yên tâm. Không phải lo chi cho con cả".

Rất tiếc, từ khi ra Hà Nội, sống xa gia đình vợ con, vốn tính xa hoa phóng đãng, lại bị những kẻ "buôn vua" giàu có bỏ tiền ra mồi chài, Vĩnh Thụy đã nhanh chóng sa vào con đường trụy lạc, ham thú phòng khuê và những trò đỏ đen. Bởi vậy, trong một lần được Cụ Hồ cho tháp tùng sang Trung Quốc, Vĩnh Thụy đã tự ý ở lại, không thực hiện được những điều đã hứa trước quốc dân.

Nam Phương Hoàng hậu và những người tình của Bảo Đại

Vợ chồng cha nuôi - Khâm sứ Charles không những dày công chăm sóc, dạy dỗ cậu bé Vĩnh Thụy, mà còn để nhiều thời gian ngắm nghía, lựa chọn rất kỹ càng hoàng hậu tương lai. Tìm hiểu khắp cố đô Huế và Sài Gòn, không thấy có con gái nhà ai ưng ý. Người đẹp, hiền thục không thiếu, nhưng phần lớn theo đạo Phật, tư tưởng bảo thủ, coi vua như ông trời, bảo sao nghe vậy, không dám phản đối và như vậy khó trở thành một hoàng hậu giúp ích cho vua.

Cuối cùng họ cũng tìm thấy cô Mariette Jeanne Nguyễn Hữu Thị Lan, con gái một gia đình giàu có nhất nhì Nam bộ, đã tốt nghiệp tú tài ở Pháp, có thể hội đủ những tiêu chuẩn cho một hoàng hậu. Vì thế Charles đã khéo léo sắp đặt cho Bảo Đại đi trên một chuyến tàu thuỷ trở về Việt Nam cùng với Mariette Lan. Sau đó ông ta còn sắp đặt để Bảo Đại đi nghỉ ở Đà Lạt, trong khi "tình cờ" toàn thể gia đình cô Thị Lan cũng đang có mặt ở thành phố này.

Hai người trai tài, gái sắc đã gặp nhau lênh đênh trên biển cả tháng trời, nay lại có dịp cùng nhau nghỉ mát, vui thú thưởng ngoạn những phong cảnh sơn thuỷ hữu tình của thành phố mộng mơ. Trong hoàn cảnh đó thật dễ nảy sinh tình cảm trăm năm kết tóc se tơ. Lễ cưới nhà vua được tổ chức vào ngày 20/3/1934, khi chú rể Bảo Đại 21 tuổi, còn cô dâu Mariette Thị Lan 19 tuổi. Trở thành Nam Phương Hoàng hậu, bà đã cùng vua Bảo Đại sống với nhau rất hạnh phúc. Cho đến trước khi Bảo Đại rời ngôi vua, bà đã sinh được cho ông 2 hoàng tử và 3 công chúa.

Nam Phương Hoàng hậu là một phụ nữ rất nhạy cảm với thời cuộc, có đầu óc suy đoán tinh tế và am hiểu chính trị. Chính bà đã thường xuyên bàn luận về thời cuộc với ông Đổng lý Phạm Khắc Hoè để sớm tối tỷ tê với Hoàng thượng, góp phần thúc đẩy ông đi tới quyết định thoái vị.--PageBreak--

Hôm khai mạc Tuần lễ vàng ở Huế, bà đã ăn mặc rất lịch sự, cổ đeo kiềng vàng, tai bông vàng, hai cổ tay 2 xuyến vàng và cả 10 ngón tay đeo nhẫn vàng, làm cho mọi người trong Hoàng tộc và các mệnh phụ vô cùng ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Đến khi bà tháo tất cả hàng chục lượng vàng để ủng hộ cách mạng, mọi người mới vỡ lẽ. Được Cụ Hồ mời bà đưa các con ra Hà Nội đoàn tụ với ông cố vấn Vĩnh Thụy, bà cũng đã xử sự rất đúng mực, khi trả lời rằng rất biết ơn Cụ Chủ tịch, nhưng sợ như vậy sẽ làm tốn kém thêm cho Nhà nước trong khi Chính phủ còn đang nghèo, phải lo trăm chuyện.

Từ khi sống độc thân ở Hà Nội, Bảo Đại sa vào cạm bẫy của người đẹp Bắc Hà. Đầu tiên là cặp bồ với Bùi Mộng Điệp, một cô gái nghèo nhưng sắc nước hương trời, làm vũ nữ ở một vũ trường nổi tiếng. Quan hệ giữa ông với Mộng Điệp đã "già nhân ngãi, non vợ chồng", đến khi ông ở lại Trung Quốc, thì ở nhà bà sinh con gái. Pháp quay trở lại chiếm Hà Nội, chúng đã bắt Mộng Điệp vì nghi cô là gián điệp của Việt Minh cài vào để cầm chân Bảo Đại theo cách mạng.

Nghe tin Mộng Điệp bị bắt, Bảo Đại viết thư phản đối nhà đương cục Pháp, vì vậy cô đã được tha. Sau này, vào năm 1949 Pháp đưa Bảo Đại trở về làm "Quốc trưởng", Mộng Điệp đã được ông đón về làm thứ phi. Mộng Điệp theo đạo Phật, thông thạo lễ nghi và khôn khéo hành xử, chiều chuộng Hoàng Thái hậu cũng như các thành viên Hoàng gia, nên được mọi người quí trọng. Về sau bà sinh thêm cho Bảo Đại 2 hoàng tử nữa.

Dinh 3 Đà Lạt (xây dựng năm 1933 hoàn thành năm 1937) còn gọi là "Biệt điện Quốc trưởng".
Dinh 3 Đà Lạt (xây dựng năm 1933 hoàn thành năm 1937) còn gọi là "Biệt điện Quốc trưởng".

Cùng thời với Mộng Điệp, Vĩnh Thụy còn yêu một vũ nữ khác cũng rất nổi danh ở đất Bắc Hà là Lý Lệ Hà. Tuy nhiên, ông sống với cô gái này không lâu, không có con với nhau, rồi hai người chia tay. Năm 1946, khi đào tẩu ở lại Trung Quốc, Vĩnh Thụy yêu một cô gái Trung Hoa lai Tây tên là Hoàng Tiểu Lan và cũng đã "đơm hoa kết trái" sinh được một cô con gái.

Những năm ở ghế "Quốc trưởng", ông còn kết duyên với một cô gái Huế tên là Lê Thị Phi Ánh, sinh được hai con, một trai một gái. Sau đó còn vài ba mối tình nữa, tính đến cuối đời Vĩnh Thụy có tất cả 8 người vợ, 13 người con.

Những năm tháng cuối đời Bảo Đại

Sau khi bị Ngô Đình Diệm tiếm ngôi "Quốc trưởng" năm 1954, Bảo Đại sống lưu vong ở Paris và vẫn được Pháp trả lương. Đương nhiên, tiền lương này không nhiều, nên không thể sống xa hoa như trước, thậm chí lắm khi còn bị "viêm màng túi". Những ngày cuối đời, cựu Hoàng muốn thấy những vật báu của Hoàng triều để lại. Nhưng các con ông lo ngại, không muốn trao cho thân phụ, sợ khi túng tiền ông bán đi thì uổng phí, hoặc sợ khi ông qua đời lại rơi vào tay bà Monique Baudot, người vợ cuối cùng có hôn thú với ông. Gia đình lục đục, hầu hết con cháu không ưa gì bà Baudot, nên ông rất buồn.

Mãi tới năm 1982, nhân dịp khai trương Hội Hoàng tộc ở hải ngoại, những người con của bà Lê Thị Phi Ánh và Hoàng Tiểu Lan đang sống ở Mỹ mời ông sang dự, ông mới có chuyến đi đầu tiên tới nước Mỹ. Tuy chỉ là một chuyến thăm riêng tư, nhưng đi tới đâu Bảo Đại cũng được bảo vệ cẩn thận. Khi tới thăm Sacramento ông còn được tặng chiếc chìa khoá vàng tượng trưng của thị trấn này. Tới thăm thành phố Wesminter ông cũng được bà Thị trưởng Buchoz tặng danh hiệu "Công dân danh dự" của thành phố.

Cũng nhân dịp Bảo Đại thăm Mỹ, nhiều người con của ông đã xin được làm lại giấy khai sinh, thay vì giấy khai sinh cũ chỉ có tên mẹ, nay đã có cả tên cha là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Suốt 3 tuần ở Mỹ, được sống giữa đông đảo con cháu và gặp lại nhiều bè bạn cũ ông cảm thấy rất vui. Sau đó trở lại Pháp, bệnh suy thận tái phát. Năm 1997 mấy lần ông phải vào bệnh viện điều trị, thế nhưng không qua khỏi, ông từ trần ngày 1/8/1997, thọ 84 tuổi.

Đám tang Bảo Đại được Nhà nước Pháp cử một sĩ quan mang quốc kỳ Pháp, một tiểu đội lính lê dương quân phục trắng, gù đỏ trên vai, ngực đeo huy chương lấp lánh, bồng súng đi bên linh cữu. Bộ Ngoại giao nước ta đã gửi điện chia buồn tới tang quyến, ngoài ra còn có vòng hoa phúng điếu của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Vĩnh Sơn

Các tin khác

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Dưới chân núi Khau Rịa cao sừng sững, ngôi đền Nghĩa Đô cổ kính tọa lạc vững chãi và uy nghiêm, xa xa là dòng Nặm Luông hiền hòa chảy uốn quanh những bản làng. Từ bao đời nay, đồng bào Tày Nghĩa Đô từ bao thế hệ vẫn lưu giữ và kể cho nhau nghe câu chuyện về quá trình hình thành, bảo tồn ngôi đền thiêng của bản làng, gắn với tín ngưỡng thờ Chúa Bầu vùng Tây Bắc.

Ấn tượng Nhật Tuấn

Ấn tượng Nhật Tuấn

Nhật Tuấn người Hà Nội gốc, nhưng tính cách khá mạnh mẽ. Không bia rượu, bài bạc, thuốc lá, cả cuộc đời Tuấn gọn trong ba thứ: Văn chương, bạn bè và… người đẹp. Anh thú nhận, mình là kẻ lăng nhăng, yêu đương dắt dây. Không che đậy, giả tạo. Văn chương là con người anh.

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Theo nghĩa từ điển, “hẳn hoi” là một tính từ (khẩu ngữ) được dùng với nghĩa “có được đầy đủ các yêu cầu, theo đúng tiêu chuẩn như thường đòi hỏi”. Có thể hiểu thêm, đó là sự “tươm tất, đàng hoàng”; là sự “đúng đắn, tử tế”; là sự “cẩn thận”; là sự “trước sau như một”, “đến nơi đến chốn”; là một “sự thật”…

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Với lịch sử hơn 300 năm hình thành, Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh có những câu chuyện mãi đến ngày hôm nay vẫn còn vọng vang trong tâm khảm thị dân đất này. Trong không gian náo nhiệt sầm uất của thành phố không ngủ lại tồn tại những điều đời thường một cách bình dị.

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Khi một dân tộc đã nhận biết được về nền văn hóa của mình và cho mình thì có thể nói rằng dân tộc đó đã bước vào thời kỳ chín muồi, về ý thức dân tộc. Và, từ đó, văn hóa chính là chất keo kết dính mọi thành viên trong xã hội, trong một cộng đồng dân tộc trên một địa bàn nhất định. Văn hóa đã biến thành lực lượng vật chất to lớn bảo vệ chủ quyền quốc gia: văn hóa nâng cao địa vị của mỗi người công dân trong cộng đồng dân tộc.

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Tôi đã rất tò mò khi được các đồng nghiệp tại Thái Nguyên giới thiệu về một ngôi làng với bản sắc dân tộc Tày, được duy trì theo phương thức “tự cung, tự cấp, tự sản, tự tiêu”. Ở đó, cả một cộng đồng hàng chục gia đình “ăn cơm chung nồi, tiêu tiền chung túi” song vẫn sống đoàn kết, hạnh phúc và mãn nguyện với những gì đang có.

Giấc mơ màu lính

Giấc mơ màu lính

Ngoại đã đi thật xa. Lâu rồi. Có thể về chốn cố quận mịt mùng trong con nước Phú Ninh mênh mênh. Cũng có thể về miền mây trắng nào đó bung biêng trên bầu trời. Hoặc cũng có thể về miền xanh thẳm xa xôi, nơi đó ngoại đứng tiễn đoàn quân trùng trùng ra trận, trong đó có những đứa con của mình. Tôi hay mơ về ngoại, những giấc mơ dài.

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Hoa Viên xưa, nay thuộc xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là một làng cổ nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh, nơi hội tụ nhiều giá trị lịch sử - văn hóa đặc sắc của vùng đất phía Bắc Hà Tĩnh. Đây không chỉ là địa bàn cư trú sớm của cư dân Việt cổ với di chỉ khảo cổ nổi tiếng Phôi Phối - Bãi Cọi, mà còn là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lưu giữ hệ thống đình, chùa, miếu mạo cùng nhiều địa danh gắn với các cuộc chiến tranh thời Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn như Trạng Đội, Cồn Sâu Bắn, Trạng Vạn.

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cách nay trên dưới nửa thế kỷ, ở nhà quê, mỗi đứa trẻ trâu thường quen thuộc với hai cái roi. Đứa nào cũng có cái roi - để “điều khiển” trâu. Rất linh tinh, đơn giản, chỉ là một thanh nứa, thanh tre, hoặc cành cây nhỏ. Đứa nào cầu kỳ, “thửa” bằng đoạn mây vàng óng…

Xuôi dòng sông Gâm

Xuôi dòng sông Gâm

Dòng sông Gâm từ xứ sở Lâm Bình xuôi về vùng đất Na Hang (Tuyên Quang) sở hữu hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trên mặt hồ, những khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật vô cùng phong phú và làn nước trong xanh tựa ngọc. Với khung cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, đất trời, non nước giao hòa, nơi đây, từ lâu được xem như “Vịnh Hạ Long” trên núi, “Nàng tiên xanh” giữa đại ngàn Đông Bắc.

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Biết tôi có ý định tìm hiểu về phố cổ Mã Mây (Hà Nội), ông bạn cùng học đại học Văn hóa năm xưa tên là Đạt, nhà ở phố này, gọi điện với giọng vồn vã: “Ông lên nhà tôi, văn phòng Tour du lịch quãng giữa phố nhé, tôi sẽ đưa ông đi khắp phố, tha hồ tìm hiểu…Phố này nhiều cái kỳ lạ lắm!”

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.