Đọc truyện “Bà đỡ” của Đào Tuấn Ảnh, NXB Trẻ, 2022

“Bà đỡ” và những câu chuyện đáng kể

Bị hút bởi giọng văn. Một giọng văn linh hoạt nhiều sắc thái, khi trẻ trung hài hước, lúc lãng mạn trữ tình, khi ngậm ngùi thương cảm của một nữ sĩ đã ở tuổi U70. Khác với những công trình nghiên cứu phê bình sử dụng toàn khái niệm, ở “Bà đỡ”, Đào Tuấn Ảnh sử dụng ngôn ngữ văn học tinh chất. “Trên bến xe bạt ngàn người. Còn xe chỉ lốm đốm một vài cái… Chiếc xe ca như lão già bị parkison, vừa đi vừa run bần bật…”.

Tôi trước nay vẫn tin rằng các nhà nghiên cứu phê bình được trời phú cho họ tư duy lí tính, giỏi lập luận logic và diễn giải khoa học, còn viết văn thì…

Một ngày trên Facebook của PGS, TS, Nhà nghiên cứu phê bình, dịch giả văn học Đào Tuấn Ảnh xuất hiện một chuyện dài. Sẵn định kiến, tôi toan đọc lướt, nhưng rồi tôi đã bị hút vào một chuyến phiêu lưu nhiều tình huống li kì. Với cách dẫn chuyện tự nhiên mà tài hoa, cảnh sắc, con người, các món ẩm thực… không chỉ hiện lên lung linh ở thời điểm tác giả là một cô bé 8 tuổi, mà còn được liên tưởng với thời hiện tại, khiến câu chuyện mở mang hơn một chuyến đi.

Đọc xong tôi vội "còm": “Bà chị viết hay quá, cứ như Chekhov!”. Tưởng chỉ mình tôi, nhưng kéo xuống đọc những comments thấy có thêm nhiều nhà văn thuộc dạng khó tính ngạc nhiên về khả năng viết của chị. Và chúng tôi có chung một câu, vừa là đề nghị, vừa là thách đố: “Chị viết tiếp đi!”.

image.png -0
PGS TS Đào Tuấn Ảnh - nhà nghiên cứu phê bình văn học Nga, hiện công tác tại Ban Văn học ngước ngoài của Viện Văn học.

Mọi chuyện qua đi, mấy tháng sau tôi bất ngờ nhận được tập bản thảo mang tên “Bà đỡ” của Đào Tuấn Ảnh gửi qua email.

Tôi lại bị hút vào câu chuyện dài hơn 50.000 từ.

Bị hút bởi giọng văn. Một giọng văn linh hoạt nhiều sắc thái, khi trẻ trung hài hước, lúc lãng mạn trữ tình, khi ngậm ngùi thương cảm của một nữ sĩ đã ở tuổi U70. Khác với những công trình nghiên cứu phê bình sử dụng toàn khái niệm, ở “Bà đỡ”, Đào Tuấn Ảnh sử dụng ngôn ngữ văn học tinh chất. “Trên bến xe bạt ngàn người. Còn xe chỉ lốm đốm một vài cái… Chiếc xe ca như lão già bị parkison, vừa đi vừa run bần bật…”.

Vốn từ vựng sung túc và khả năng quan sát, cảm nhận tinh tế đã giúp Đào Tuấn Ảnh có những đoạn miêu tả rất thanh, rất gợi: “Ngắm chị Sơn kể chuyện, lần đầu tiên tôi nhận ra cái hấp dẫn ở chị không hẳn là sắc đẹp trời ban, mà chính là ánh mắt lanh lợi, sự rạng rỡ tươi mát của khuôn mặt, nét mềm mại, duyên dáng ở từng chuyển động trên cơ thể.Khi cái thân hình trẻ trung ấy cười, thì cả cái cổ ngấn cao được đỡ trên hai cánh xương quai xanh thanh mảnh, cả lúm đồng trinh nhỏ xinh hai bên khóe miệng cũng cười. Nhưng tất cả những cái đó kết hợp với nhau lại toát lên vẻ mong manh thơ trẻ, thứ khiến người ta thường thương cảm, mến yêu nơi những đứa bé, những con chim và những cây non”. “Mới chỉ hai, ba năm trước, hồi tôi và chị còn ở nhà bà ngoại, mỗi khi tắm ao tôi thấy hai ti chị chỉ như của tôi bây giờ. Vậy mà giờ đây, hai cái chũm cau bé tí ấy đã hóa thành hai nụ sen trắng hồng hé nở từ lúc nào. Có cảm giác, áp mặt vào thể nào cũng ngửi thấy hương sen thơm mát”.

Nhân vật trung tâm của chuyện là bà ngoại của tác giả, một mụ đỡ ở nông thôn, người có số phận nghiệt ngã. Chồng chết trẻ, bà ở vậy nuôi 5 đứa con, 3 trai 2 gái, dựng vợ gả chồng. Nhưng bất hạnh thay, cả 3 con trai và 2 con rể của bà đều vắn số, người tử trận, người chết vì bệnh tật đọa đày, đẩy các con dâu con gái của bà vào cảnh đa đoan. Bà giang tay nuôi một đàn cháu nội ngoại mồ côi cha để mẹ chúng có cơ hội làm lại cuộc đời.

Nghề đỡ đẻ thường phải đi đêm. “Không hiểu sao trẻ con rất thích ra đời vào ban đêm và lúc rạng sáng?”. Bầy cháu phải ôm nhau ngủ trên hai cái rổ rơm đợi bà về. Để rồi khi “nghe tiếng kẹt cửa nhất loạt nhỏm dậy, như những con tằm ngỏng cổ, tỉnh như sáo, không phải vì gió rét ập vào, mà vì cái túi vải của bà, trong đó bao giờ cũng có gói xôi và mấy miếng thịt gà luộc, đủ chia cho từng đứa”.

20221017_074325.jpg -0
Bìa tập truyện “Bà đỡ” của Đào Tuấn Ảnh.

“Như những con tằm ngỏng cổ”, một so sánh độc đáo, rất phù hợp với văn cảnh, không chỉ gợi hình, mà còn gợi nghĩa. Người Việt có câu “Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng”. Một đống cháu đang tuổi “ăn như tằm ăn rỗi”, người bà phải cực nhọc lo toan đến thế nào, nhưng cũng tràn trề hi vọng về “những con tằm” thế nào.

Là điểm tựa lớn của các con các cháu, với bản lĩnh phi thường, bà đã vượt qua trùng trùng gian khó, đối nội đối ngoại hài hòa, thuận tình hợp lí. Bà nuôi nấng, chăm bẵm, dạy dỗ các cháu kĩ càng từng li từng tí, quyết liệt bảo vệ “kiểu gà mái sẵn sàng sống mái để bảo vệ con”.Đọc những trang viết về bà, tôi cứ nghĩ đến từ “Bà” trong tiếng Anh. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà nó được ghép từ hai từ Grand - vĩ đại, với từ Mother - mẹ. Grandmother, bà mẹ vĩ đại.

“Bà đỡ” có nhiều chuyện lạ. Như chuyện về Hon, một thiếu nữ con lai xinh đẹp tình nguyện đi bộ đội, vì quá thấm nhuần bài học cảnh giác trước đàn ông của bà ngoại nên đã tát sưng mặt “đồng chí Đô”. Khi cả hai bị phạt vác súng chạy vòng quanh sân tập vì “không có luyến ái quan cách mạng” thì nàng lại lo lắng thương cảm. Rồi cuối cùng, họ trở thành vợ chồng. Nói như ngôn ngữ bây giờ, đây là một câu chuyện tình đẹp, độc, lạ.

Không chỉ có chuyện lạ, Đào Tuấn Ảnh còn có tài viết những câu chuyện quen. Chuyện khảo mít chẳng hạn. Bà đứng dưới gốc, cháu trai trèo lên cây. Không chỉ là màn hỏi - đáp mang tính công thức dân gian thường dùng, mà là những lời thoại nghệ thuật đích thực: “Sang năm có bao nhiêu quả?”. “Dạ một trăm quả ạ”. Bà nín cười: “Sư bố anh, bà không tham thế. Bà chỉ cần đủ mít cho đám cháu bồ côi của bà ăn thôi”. Câu thoại làm ý nghĩa vút lên, không còn là chuyện khảo mít thông thường, mà đã là nhân cách, triết lí sống.

“Bà đỡ” có nhiều nhân vật, làm nhiều ngành nghề, nhưng nhân vật nào cũng sắc nét thông qua những chi tiết sống động. Đó là mẹ tác giả, một cô gái trẻ tham gia hoạt động cách mạng, dám phá bỏ lề thói “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, nghe theo tiếng gọi của trái tim, dám dùng bộ đồ thô sơ của mụ vườn để tiến hành một cuộc đại phẫu dưới hầm, gắp viên đạn găm trong thân thể người yêu. Vì không có thuốc điều trị, người yêu chết, để lại giọt máu 8 tháng tuổi. Rồi chính cô phải tự tay đỡ đẻ cho mình, “dốc tuột cả lọ thuốc tím vào chậu để tắm cho con” khiến con bé có nước da đen từ ngày ấy (một cách tự trào rất duyên của tác giả).

Đó là một ông bá dượng tiếp thu văn minh Pháp trở thành một đầu bếp lịch lãm đến mức lạc lõng giữa thời buổi bao cấp nghèo đói nhom nhem. Đó là anh lái xe Hùng khểnh thô tháp nhắng tếu trong công việc nhưng lại chân phương trong trẻo trong tình yêu. Tôi, nhân vật kể chuyện là người bướng bỉnh, nhiều hoài bão giữa những anh chị em mỗi người mỗi vẻ, đứa hiền lành cam chịu, đứa nhí nhố nghịch ngợm, đứa lãng đãng mộng mơ... Rồi còn là thằng cu Mon gọi tác giả là bà nữa, chỉ vài nét phảy, Đào Tuấn Ảnh đã vẽ nên một đứa trẻ của thời hiện tại, thông minh, láu lỉnh đến đáng yêu.

*

Phải thú thật là khi mới nhận được “Bà đỡ”, mở ra xem lướt thấy bản thảo được chia làm nhiều phần, mỗi phần lại có những tít phụ, tôi đã thấy lo lo. Làm nghề biên tập hai mươi năm, tôi khá thuộc các dạng bản thảo. Với dạng chuyện hồi ức như thế này, tác giả rất dễ rơi vào tình trạng nhớ gì kể nấy, bản thảo sẽ chỉ là những kỉ niệm rời rạc, đọc riêng từng đoạn thì thích, nhưng tổng thể thì hỏng. Nhưng đọc xong tôi đã mừng.

Bởi ngoài văn hay, tác giả đã dụng công tìm được một cái “tứ” rất chắc làm sợi dây xâu chuỗi các sự kiện, nhân vật với nhau. Xuyên suốt tác phẩm, chủ đề về lòng nhân hậu, đức hi sinh, tinh thần xả thân cưu mang những mảnh đời cơ nhỡ được tập trung thể hiện. Cái từ trường mạnh mẽ của bà ngoại đã ảnh hưởng tích cực tới mấy thế hệ trong đại gia đình. Không chỉ những người phụ nữ, mà cả những người đàn ông, những ông bá dượng, bố dượng, những chị em con chú con bác, con già con dì, con cô con cậu… đều kế thừa phẩm tính của bà, để rồi đều trở thành “bà đỡ”.

Không phải “bà đỡ” theo nghĩa đen, mà là “bà đỡ” ở nghĩa văn chương theo rộng dài thời cuộc, từ chiến tranh loạn lạc sang bao cấp nhọc nhằn cho đến kinh tế thị trường xô bồ nhũng nhiễu. Những đứa trẻ ruột thịt được nâng đỡ đã đành, đến những đứa trẻ “khác máu” vẫn được cứu vớt. Không chỉ những đứa trẻ ngoan được đón nhận, mà cả những đứa trẻ lầm lạc vẫn được nâng đỡ. Tất cả những đứa trẻ ấy đều được an trú trong yêu thương.

Mấy năm gần đây những vụ bạo hành trẻ em trong một số gia đình “rổ rá cạp lại” với biểu hiện “khác máu tanh lòng” ghê rợn khiến dư luận hoang mang cho rằng đạo lí, nhân tính đã đến hồi suy đồi rã mạt. Tôi không nghĩ thế. Thời nào cũng vậy, cái ác cái xấu luôn được biết đến nhanh hơn, còn cái tốt cái đẹp luôn nhiều hơn, nhưng thường bị ẩn chìm khuất lấp. Như những con người trong “Bà đỡ”.

“Bà đỡ” thuộc dạng non-fiction, kể về những người thân của tác giả. Thể loại này nở rộ mấy năm gần đây. Đó là điều dễ hiểu, bởi trong cuộc đời mỗi người đều có những câu chuyện đáng kể. Và Đào Tuấn Ảnh đã kể một cách hấp dẫn, cao hơn nữa, là đã vượt qua được câu chuyện gia đình, mang được thông điệp xã hội sâu sắc.

Đỗ Tiến Thụy

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).