“An Nam truyện” – Lịch sử nước nhà từ một góc nhìn

“An Nam truyện - Ghi chép về Việt Nam trong chính sử Trung Quốc xưa” là một cuốn sách tham khảo cực kỳ cần thiết đối với các nguồn sử liệu nước nhà.

Trao đổi về bản dịch “An Nam truyện” vừa được Công ty cổ phần Sách Tao Đàn và Nhà xuất bản Hội Nhà văn liên kết phát hành (2018), dịch giả Châu Hải Đường chia sẻ: “Tôi muốn tìm hiểu và giới thiệu thêm về lịch sử nước nhà từ một góc nhìn khác, mặc dù có thể với các nhà nghiên cứu thì cũng không có gì lạ, nhưng với đại đa số độc giả, nó còn ít được giới thiệu đầy đủ”.

“An Nam truyện” được dịch giả Châu Hải Đường dịch và biên soạn rất công phu, khá toàn diện các vấn đề liên quan đến Việt Nam được chép trong các bộ cổ sử của Trung Quốc. Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện với dịch giả Châu Hải Đường.

Có nhiều bản dịch của các thế hệ

Vì sao ông không chọn dịch các sách tư liệu trong nước? Phải chăng vì là “tay ngang” nên khó tiếp cận với những tư liệu trong nước vốn được cất kỹ trong các cơ quan Nhà nước?

+ Không phải là “không chọn dịch”, mà ngược lại chọn dịch các tác phẩm trong nước đã và sẽ luôn là ưu tiên số một của tôi. Thực tế, tôi đã đọc, dịch, và giới thiệu trên mạng một số sáng tác văn chương của tiền nhân qua báo chí hay mạng Internet.

Dịch giả Châu Hải Đường.
Dịch giả Châu Hải Đường.

Đối với các tác phẩm thuộc lĩnh vực lịch sử, một là trước nay đã có nhiều nhà nghiên cứu, dịch giả phiên dịch, giới thiệu tương đối đầy đủ, hai là tôi muốn tìm hiểu và giới thiệu thêm về lịch sử nước nhà từ một góc nhìn khác, mặc dù có thể với các nhà nghiên cứu thì cũng không có gì lạ, nhưng với đại đa số độc giả, nó còn ít được giới thiệu đầy đủ. Đó là lý do tôi đã thực hiện cuốn sách này trước.

Còn với việc tiếp cận tư liệu (đã được lưu trữ) hiện nay ở nước ta tuy không có gì khó khăn, nhưng cũng vẫn chưa được thuận lợi, ví dụ như: Việc số hóa các tác phẩm cổ điển còn hạn chế, chi phí để in sao các tác phẩm còn cao…

Đó là khó khăn chung cho những nhà nghiên cứu, và tất nhiên càng khó khăn hơn với những người nghiên cứu “tay ngang” - như anh nói - khi muốn tìm hiểu tư liệu cổ trong nước. Ngoài ra, với các tư liệu có thể còn tản mát trong dân gian khác, như những ghi chép riêng của các gia đình, dòng họ, thì càng cần có thời gian để sưu tầm nghiên cứu và thẩm định kỹ càng hơn nữa.

- Dường như, ở nước ta các dịch giả, nhà nghiên cứu có vẻ như khá bằng lòng với các bản dịch. Trong khi đó, theo tôi được biết, có nhiều bản dịch khác nhau qua mỗi thời kỳ và người dịch sau thường sẽ bổ khuyết và bổ chú cho những thiếu sót, nhầm lẫn của người dịch trước. Phải chăng ông cũng có tâm lý bằng lòng với bản dịch của tiền nhân? Hay chúng ta chưa quen/ chúng ta còn thiếu nền nếp của một nền dịch thuật phản biện?

+ Thực sự tôi không nghĩ các dịch giả, nhà nghiên cứu “nước ta có vẻ bằng lòng với các bản dịch trước”. Thực tế là, đối với các tác phẩm cả lịch sử cũng như văn học, ngôn ngữ này hay ngôn ngữ khác, chúng ta luôn có nhiều bản dịch của các thế hệ dịch giả, nhà nghiên cứu khác nhau.

Ví dụ như, với bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” chúng ta có bộ của Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính chú giải, và gần đây là bộ của Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu dịch, GS Hà Văn Tấn hiệu đính… với bộ “Hoàng Lê nhất thống chí” chúng ta có bộ của Ngô Tất Tố dịch, lại có bộ của Nguyễn Đức Vân, Kiều Thu Hoạch dịch,…

Việc hiệu đính bổ sung cho các dịch phẩm có sẵn cũng rất được quan tâm thực hiện, ví như bộ “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung được Phan Kế Bính dịch, Bùi Kỷ hiệu đính, trong bản in của Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp năm 1988 lại được Lê Huy Tiêu, Lê Đức Niệm sửa chữa và giới thiệu…

Đặc biệt, việc trao đổi, tranh luận về các dịch phẩm gần đây như tác phẩm Lolita (Dương Tường dịch)… chẳng hạn, rõ ràng cho thấy không hề có việc chúng ta bằng lòng với các bản dịch trước. Và tôi nghĩ rằng, việc người dịch sau bổ khuyết sửa chữa cho những thiếu sót của người dịch trước là việc rất bình thường và nên có. Tôi chưa dám nói đến “nền nếp của một nền dịch thuật phản biện”, vì có lẽ, nó sẽ còn cần nhiều yêu cầu hơn nữa, nhưng rõ ràng các thế hệ dịch giả, nhà nghiên cứu trong nước đã luôn có ý thức phản biện hiệu chỉnh, cho tới dịch lại các dịch phẩm của người đi trước.

Về phía mình, chính tôi cũng đã hoàn thành việc hiệu đính bổ sung cho một tác phẩm khá lớn (tôi xin phép giấu tên) đã được dịch và xuất bản phổ biến từ lâu, hiện tác phẩm đã sắp sửa in xong, nói như vậy để thấy rằng, tôi cũng không hề có “tâm lý bằng lòng” ấy.

Chú giải tường tận để độc giả dễ dàng tiếp cận

 - Qua bản dịch “An Nam truyện” cho thấy ông khá thận trọng với sử liệu, đối chiếu kỹ càng, chú thích lớp lang. Ví dụ, Tống sử chép về vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) là “mục miểu”. Ông đã chú thích rõ ràng rằng chữ “miểu” có một nghĩa là chột (thiên manh – mù một mắt), và một nghĩa khác là lé “nhất mục tiểu dã” – một mắt nhỏ hơn mắt kia. Ông đã rất thận trọng, không xác quyết rõ ràng mà đợi tìm thêm được những ghi chép cụ thể hơn.

Hay như trong Tống sử chép về nhân vật Thiệu Hồng dưới thời Ngô Vương, thì ông cũng chú rõ: “Sử ta không chép về Thiệu Hồng, có thuyết cho rằng Thiệu Hồng là tên sử Trung Quốc gọi Dương Tam Kha”. Tương tự, ông chú thích rằng sông Phú Lương trong Nguyên sử chép là tên sử Trung Quốc gọi sông Hồng nước ta; trong khi đó, có cơ quan nghiên cứu lịch sử thuộc vào hàng nhất nước thì giải thích đó là sông Cầu và đưa hết về cho địa chí tỉnh Thái Nguyên.

Tôi xin lỗi khi phải so sánh thế này: Ông làm việc chuyên nghiệp hơn cả một số cán bộ ở các viện nghiên cứu. Tôi được biết ông không phải nhà nghiên cứu chuyên nghiệp. Vậy phong cách làm việc này có được căn bản từ đâu, mong ông chia sẻ.

Bản dịch “An Nam truyện” (2018).
Bản dịch “An Nam truyện” (2018).

+ Trước hết, xin chân thành cảm ơn anh đã đọc tác phẩm và có lời động viên khích lệ với người làm sách – cả dịch giả, cũng như đơn vị xuất bản. Đối với bất cứ dịch phẩm nào tôi cũng đều tự yêu cầu bản thân phải chú ý đến việc chú giải tường tận để độc giả có thể dễ dàng tiếp cận. Đối với các tác phẩm về lịch sử và văn chương cổ điều ấy lại càng cần thiết. Trong cuốn sách này, tôi đã cố gắng tối đa để có những chú thích cần thiết, tuy nhiên một công lao lớn trong đó là của ban biên tập nói riêng và Công ty cổ phần Sách Tao Đàn nói chung. Nhân đây, cho tôi gửi lời cảm ơn tới các anh chị đã biên tập cuốn sách.

Tôi không dám đồng tình với sự so sánh của anh. Và, rất nhất trí với ý kiến nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân trong một buổi nói chuyện gần đây, rằng, “việc học hành chuyên nghiệp là một yêu cầu nghiêm túc và người học chuyên ngành ra làm nghiên cứu vẫn tốt hơn”.

Còn về phong cách làm việc, tôi cho rằng nó không liên quan đến việc chuyên hay không chuyên, mà nó phụ thuộc vào thái độ của mỗi người đối với công việc họ làm. Nếu anh thực sự để tâm vào công việc mình làm, tất nhiên anh sẽ đem hết khả năng của mình ra làm công việc ấy một cách thận trọng chu đáo và tỉ mỉ nhất. Và, tôi học được điều ấy qua chính những tác phẩm, công trình của những người đi trước mà tôi đã được đọc, được tiếp cận.

 - Xin cám ơn những chia sẻ của dịch giả Châu Hải Đường.

Tuyển dịch từ 17 bộ chính sử Trung Quốc

Trong “An Nam truyện”, dịch giả Châu Hải Đường đã tuyển dịch những truyện có thông tin liên quan đến Việt Nam, về Việt Nam từ 17 bộ chính sử của Trung Quốc là Sử ký (Tư Mã Thiên soạn), Hán thư (Ban Cố soạn), Hậu Hán thư (Phạm Việp soạn), Tam quốc chí (Trần Thọ soạn), Tống sử (Thoát Thoát và A Lỗ Đồ soạn), Nguyên Sử (Tống Liêm soạn), Minh sử (Trương Đình Ngọc soạn), Thanh sử cảo (Triệu Nhĩ Tốn soạn)…
Kiều Mai Sơn (thực hiện)

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).