"Aliss bên đám lửa": Những mảnh ghép nên Jon Fosse

Vượt qua những tên tuổi lẫy lừng khác để trở thành chủ nhân mới nhất của giải Nobel Văn chương 2023, Jon Fosse đã có một đời hoạt động sôi nổi trước khi chạm tay đến giải thưởng danh giá bậc nhất thế giới văn chương. Trong số các tác phẩm văn xuôi của ông, “Aliss bên đám lửa” có thể nói là tác phẩm nổi bật nhất, đại diện cho phong cách Jon Fosse nhất và cũng được chuyển ngữ sớm nhất trong di sản của nhà văn này.

Theo đó, khi được trao giải, Jon Fosse đã được Viện Hàn lâm Thụy Điển ca ngợi vì khả năng giúp “nói hộ những thứ không thể nói thành lời” qua các vở kịch cũng như văn xuôi. Nếu Annie Ernaux được trao giải vì lòng dũng cảm khi từ những trải nghiệm cá nhân đã phản ánh những sự chuyển biến của xã hội Pháp, Olga Tokarczuk vì bộ óc bách khoa toàn thư… thì ở Fosse, một điều gì đó mang tính nội quan cũng được gợi ra.

Chẳng hạn ông từng chia sẻ chính một trải nghiệm cận tử khi mình lên 7 đã làm thay đổi cuộc đời cũng như con người nghệ sĩ ẩn bên trong mình, hướng ông đến với sứ mệnh viết ra những thứ bất khả để nói. Ở “Aliss bên đám lửa”, ta thấy rất rõ những trải nghiệm trên, trong phong cách viết độc đáo và đầy hấp dẫn của nhà văn.

image003.jpg -1
Nhà văn Jon Fosse. Ảnh: Britannica

Cuốn sách xoay quanh một cặp vợ chồng, gồm Signe - người thường trực ở ngôi nhà hàng trăm năm tuổi, trông về phía biển từ khung cửa sổ; và Asle - một người đàn ông có niềm yêu thích dong thuyền ra biển, có lần lên đến hai ngày một lần. Trong một đêm mưa gió bão bùng của tháng 11 năm 1979, Asle muốn ra bến thuyền kiểm tra dây neo, thế nhưng anh đã ra đi và không trở về. Cũng kể từ đó, Signe nhìn thấy rất nhiều “người khác” đã từng hiện diện trong căn nhà này, từ kỵ Aliss và ông cố Kristoffer của Asle, đến ông nội Olaf, bà nội Olaf và người anh trai đoản mệnh của ông - người chết ở tuổi lên 7 khi đang chơi thuyền ở ngoài bến cảng - mà chồng của cô được đặt tên theo.

Hiện thân văn chương của Fosse

Nói “Aliss bên đám lửa” là tác phẩm điển hình nhất cho phong cách văn chương của Jon Fosse là bởi nó hàm chứa hầu như tất cả đặc trưng phong cách sáng tác và những sáng tạo nghệ thuật của bản thân ông. Đầu tiên nằm ở cấu trúc. Theo đó Fosse được ca ngợi vì đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn những dấu ấn địa lý quen thuộc, với khả năng cách tân trong nghệ thuật viết khác biệt, làm chúng hòa hợp, trở nên mới lạ.

Điểm đặc biệt thứ 2 nằm ở cách cấu trúc tác phẩm. Thật chất Fosse vốn nổi tiếng với khả năng viết kịch trước khi rẽ hướng chuyển sang văn xuôi. Với sự giới hạn về yếu tố bối cảnh, kịch nói của ông thường có một sự tăng tiến theo chiều dọc - thời gian hơn là chiều ngang - bối cảnh. Điều này tương đối dễ hiểu khi sân khấu trình diễn luôn bị giới hạn về mặt vật lý. Ở “Aliss bên đám lửa”, ta thấy nhiều dòng thời gian được đặt trùng khớp lên nhau mà điểm mấu chốt được khóa chặt lại là căn nhà cũ hàng trăm năm tuổi, giữa lúc bà kỵ Aliss mới 20 tuổi, đến năm 1897 khi cụ Asle qua đời, rồi gần một thế kỷ sau, vào năm 1979, khi Asle mất tích và năm 2002, khi Signe nằm đó tự vấn tất cả. Thời gian trong nó ẩn chứa những sự thay đổi, và bằng việc đóng băng một trục của vũ trụ này, Fosse đã cho ta thấy một cách rung động tác động của nỗi đau và những hồi ức xám xịt được di truyền lại trong cây gia phả gia đình.

Điểm nhấn thứ 3 là phong cách văn chương khác biệt của bản thân ông. Fosse thường được biết đến với các tác phẩm không chấm câu, không xuống dòng, viết một mạch từ đầu tới cuối và các câu này chỉ được phân cách bằng những liên từ hoặc là tình tiết lặp đi lặp lại. Như ông giải thích, đây là hiệu ứng để ông tái tạo lại những khoảng lặng của chính con người. Trên sân khấu, ông thường khai thác những nỗi bất an, những sự lo sợ, cảm giác hoang mang… khi con người ta không thể đưa ra lựa chọn hoặc là quyết định mình sẽ làm gì. Và chính khoảng lặng sau các câu nói hay những khoảng không khi các nhân vật đứng trước ngã ba đường... là cách hiển hiện tốt nhất những cảm xúc này. Vì vậy nếu Luigi Pirandello - nhà văn người Ý đoạt giải Nobel Văn chương 1934 nổi tiếng với các cách tân về cấu trúc kịch, thì có thể nói Jon Fosse đã làm nên tên tuổi bằng những khoảng lặng.

image001.jpg -0
Bìa tiểu thuyết “Aliss bên đám lửa”.

Đối với kịch nghệ, do có sự hỗ trợ của người diễn viên cũng như âm thanh, ánh sáng... mà ý định trên rất dễ thực hiện. Nhưng khi viết văn xuôi, ông phải tạo ra điều gì đó khác để bộc lộ được những hậu vị tinh tế này - điều “không thể nói ra” mà vì thế giải Nobel Văn chương thuộc về ông. Vì thế ông bắt đầu viết những câu đơn giản nằm cạnh bên nhau nhưng mang sắc thái đối lập, từ đó dựng lại cảm giác hoang mang, không thể chọn lựa của các nhân vật, khi họ đối mặt với những quyết định quan trọng của cuộc đời mình.

Không gian của sự sáng tạo

Chính bằng việc tái hiện trên, Fosse đã tạo nên một không gian văn chương khác lạ, nơi những thứ không thể nói ra đã được tỏa bày và cảm xúc ấy đã được trao truyền đến với người đọc. Là người yêu thích văn chương của nhà văn Áo Thomas Bernhard, người vốn nổi tiếng với những tác phẩm châm biếm, giễu nhại... cùng nghệ thuật viết dòng suy tưởng nối nhau cho đến vô cùng, nhưng ở Fosse, hình thức của ông trông chỉ giông giống chứ không phải thế, xét về bản chất. Ý tưởng của ông không xuất phát từ một não trạng liên tục cho ra những câu văn dài theo dòng cảm xúc, mà việc tái hiện lại những câu văn nối tiếp nhau, nằm kế bên nhau nhưng tác động chính là phủ nhận nhau lại nhằm chủ yếu là tái hiện lại sự im lặng và vô phương hướng ở nơi chủ thể.

Sở dĩ có được điều đó là nhờ sự đơn giản của các từ ngữ. Ngay cả bản dịch tiếng Anh của Fosse luôn được các dịch giả chọn lựa những từ bình dị, không hề đánh đố. Đó là những gì thực nhất và rõ ràng nhất, bởi như Fosse mượn lời Signe để nói về chồng mình trong tác phẩm này rằng, “nếu có điều gì anh không thích thì đó là những từ to tát, chúng chỉ dối trá và che đậy mọi thứ, những từ to tát đó, chúng không để cho điều đích thực được sống và thở mà chỉ biến nó thành thứ gì đó muốn trở nên to tát, đó là điều anh nghĩ, và anh là như thế đấy”. Dịch giả Bùi An Bình, người chuyển ngữ tác phẩm cũng từng nói rằng: “Có thể so sánh đọc Fosse với thiền vậy. Nó cần sự lặp lại chính xác và phải cực kỳ đơn giản. Mọi phức tạp, hoa mỹ đều phá hỏng nó”.

Ở “Aliss bên đám lửa”, ta cũng thấy được những dấu chỉ hướng đến nhiều sự trùng khớp trong cuộc đời của vị nhà văn với nhân vật chính. Từ ngoại hình là mái tóc đen dài, cho đến cách nhìn nhận về từ ngữ, sự giản đơn và cảm giác tách biệt. Ngoài ra trải nghiệm cận tử ở tuổi lên 7 cũng được tái hiện trong tác phẩm này, nhưng ở tại đây là một cái chết đã thành hiện thực, không còn lựa chọn nào khác. Chính cái chết ấy đã khởi động nên bộ máy di truyền, nơi những bi kịch trong một gia đình bỗng dưng trở lại và rồi phản chiếu lên nhau. Từ cái “chết hụt” của ông cố Kristoffer đến cái chết thật của cụ Asle và giờ là Asle đi mãi không về, qua vòng lặp thứ 3 này, Fosse đã cho ta thấy việc tập trung vào khai thác nỗi đau, cũng như ảnh hưởng dài lâu của nó đến những người còn lại. Đó là vết thương không thể xóa mờ và làm lành lại ngày một ngày hai.

Cái chết vốn thường xuất hiện trong các tác phẩm của vị nhà văn, nhưng không theo hướng bi kịch, mà là hóa giải chính nỗi đau ấy. Chẳng hạn trong "A Shining" (Ánh sáng trắng), người đàn ông trước khi chết đã nhìn thấy người phụ nữ mình hằng khao khát cũng như bố mẹ trong ánh sáng bừng lên. Điều này cho thấy trong những thời khắc cận tử, những gì mà anh nghĩ tới đó là những người thân quen. Còn với “Aliss bên đám lửa”, hành trình giải mã sự biến mất của Asle cũng đã tái hiện sợi dây bi kịch của một gia đình, như thể đó là lời nguyền không thể tránh khỏi, để Signe thấu hiểu được một mảng tối bên trong chồng mình, thứ bản thân anh cũng không thể hiểu.

Vì những điều này mà trong diễn từ nhận giải Nobel tại Thụy Điển vào cuối năm 2023, Fosse nói rằng tuy viết nhiều về cái chết và trải nghiệm cận tử, thế nhưng điều khiến ông hạnh phúc nhất là những lá thư từ các độc giả nói rằng tác phẩm của ông đã cứu mạng họ. Bằng việc đi sâu vào ranh giới của sự sống, cái chết, văn chương của Fosse đã tiến đến sự hóa giải. “Aliss bên đám lửa” là một tác phẩm đặc sắc, ấn tượng, hấp dẫn và mang nhiều cá tính nhất của Jon Fosse. Qua các sáng tạo về mặt nghệ thuật cũng như khai thác những đề tài “không thể nói ra”, nhà văn đến từ Na Uy đã cho độc giả sống lại với những thời khắc tuy không dễ dàng, nhưng khi được viết ra, những vết hằn cũ phần nào được bôi xóa bớt. Một tác phẩm sáng tạo, tiên phong và đầy phá cách.

PV

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).