100 năm sân khấu cải lương: Thời hoàng kim có còn trở lại?

"Cải lương đang trong cơn tai biến". Nhận định trên của đạo diễn, NSƯT Trần Minh Ngọc tại tọa đàm "Theo dòng lịch sử sân khấu cải lương" tổ chức tại TP Hồ Chí Minh vừa qua khiến nhiều người không khỏi ngậm ngùi.

Nhìn lại chặng đường 100 năm của sân khấu cải lương, vấn đề "chạy chữa" cho loại hình nghệ thuật này vượt qua "cơn tai biến" vẫn còn quá gian nan chứ chưa dám mong lặp lại thời hoàng kim.

Nuối tiếc một thời đỉnh cao

Ngày 16-11-1918, vở "Gia Long tẩu quốc" được trình diễn tại Nhà hát Tây Sài Gòn. Đây được xem là vở diễn đánh dấu sự ra đời của nghệ thuật cải lương. Đến nay, cải lương đã tròn 100 tuổi và trở thành loại hình sân khấu gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần người dân Nam Bộ. Dù tuổi đời non trẻ so với các loại hình nghệ thuật truyền thống khác nhưng cải lương sớm khẳng định được chỗ đứng, đạt những thành tựu rực rỡ và sản sinh hàng loạt gương mặt nghệ sĩ tài danh, được đông đảo công chúng mến mộ.

Đến nay, vẫn có những tranh cãi về khoảng thời gian nào mới là thời hoàng kim của cải lương. Tham khảo nhiều vị tiền bối, TS Mai Mỹ Duyên, Đại học Trà Vinh cho hay, có hai luồng ý kiến. Ý kiến thứ nhất cho rằng giai đoạn năm 1930-1945 mới là thời hoàng kim của cải lương. Vì giai đoạn đó tạo ra một đội ngũ nghệ sĩ là những "cây cổ thụ của cải lương" mà tài hoa sáng tạo của họ xếp vào bậc thầy của thế hệ sau.

Cải lương bây giờ không còn thu hút công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. (Trong ảnh: Một cảnh trong vở "Rạng ngọc Côn Sơn").
Cải lương bây giờ không còn thu hút công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. (Trong ảnh: Một cảnh trong vở "Rạng ngọc Côn Sơn").

Nếu bầu gánh hát là những trí thức có đầu óc canh tân, những nhà giàu ham văn nghệ thì đội ngũ soạn giả giai đoạn này là những người có trình độ am hiểu cổ - kim (Nho học và Tây học) như Tư Chơi, Năm Châu, Trần Hữu Trang, Lê Hoài Nở, Mộng Vân…

Những kịch bản như "Khúc oan vô lượng", "Túy Hoa vương nữ", "Tô Ánh Nguyệt", "Đời cô Lựu", "Tráng sĩ Kinh Kha", "Khi người điên biết yêu"… đều có ca từ, lời thoại có tính triết lý, giáo dục sâu sắc. Đội ngũ diễn viên cũng là những ngôi sao huyền thoại như Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nam, Kim Thoa, Ba Vân…

Tuy nhiên, một số bậc cao niên khác thì cho rằng từ năm 1955 đến 1975 mới là thời hoàng kim của cải lương. Bởi giai đoạn này vừa giữ được đội ngũ sáng tạo bậc thầy nói trên, vừa xuất hiện thêm một lực lượng đông đảo các soạn giả trẻ tuổi, nhiệt huyết, dồi dào bút lực như: Viễn Châu, Kiên Giang, Hà Triều - Hoa Phượng, Thu An, Yên Ba, Thiếu Linh, Phong Anh… Họ không chỉ tiếp bước tiền bối mà còn đưa nhiều cách sáng tạo và văn hóa các nước vào cải lương.

Nội dung sáng tạo kịch bản phong phú tạo nên nhiều thể tài đa dạng của sân khấu cải lương như hương xa, kiếm hiệp, dã sử, tuồng cổ (tuồng Tàu), tâm lý xã hội… Hàng trăm vở ra đời và làm nên tên tuổi của loạt nghệ sĩ như: Hữu Phước, Thanh Nga, Thành Được, Út Bạch Lan, Út Trà Ôn, Ngọc Giàu, Diệp Lang, Bạch Tuyết, Hùng Cường, Minh Vương, Lệ Thủy, Diệu Hiền, Mỹ Châu, Thanh Tòng…

Trong đó có hơn 260 vở tiêu biểu đi vào lòng công chúng mà thế hệ sau này vẫn nhắc nhớ. Nhận thấy sự phát triển mạnh mẽ của cải lương, Giải Thanh Tâm ra đời nhằm góp phần vinh danh nghệ thuật cải lương, thúc đẩy nghệ sĩ không ngừng rèn nghề, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tu dưỡng nhân cách. Những nghệ sĩ được trao giải là những tấm gương tài đức vẹn toàn và mãi để lại dấu ấn đến ngày nay như Thanh Nga, Mỹ Châu, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Thanh Sang…

So với chủ gánh giai đoạn trước, giai đoạn này bầu gánh đi theo xu hướng hình thành công nghiệp giải trí. Họ lập định chiến lược phát triển thông qua việc ký kết hợp đồng với đào kép, thầy tuồng, nhạc sĩ, họa sĩ…, vừa đào tạo đội ngũ nghệ sĩ biểu diễn tài năng vừa đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của khán giả.

Việc trang trí sân khấu và phục trang cho diễn viên được chăm chút bởi những họa sĩ có tài để cải lương đúng nghĩa trở thành Thánh đường theo phong cách "Thực và Đẹp" mà nghệ sĩ Năm Châu đề xướng. Chính vì những thành tựu nổi bật của hai thập niên này mà đa phần giới mộ điệu đều cho rằng thời kỳ này xứng đáng là thời kỳ đỉnh cao rực rỡ của cải lương.

Không đến mức cực đoan như nhiều người cho rằng bây giờ cải lương đã "chết" tại nơi sinh ra nó, đạo diễn Nguyễn Hồng Dung, Phó Chủ tịch Hội Sân khấu TP Hồ Chí Minh cho rằng cải lương giờ vẫn sống nhưng không sống mạnh. Trải qua 100 năm, cải lương cũng không thể thoát ra khỏi quy luật tất yếu của sự phát triển là có lúc thịnh, lúc suy. Bây giờ, cải lương đang bước vào giai đoạn suy.

Vở cải lương "Đời cô Lựu" - một tác phẩm kinh điển của sân khấu Việt Nam.
Vở cải lương "Đời cô Lựu" - một tác phẩm kinh điển của sân khấu Việt Nam. 

NSƯT Trần Minh Ngọc chỉ rõ, lượng tác giả am hiểu cải lương còn lại rất hiếm hoặc đã cao tuổi, gác bút nghỉ. Người trẻ có nhiệt huyết lại ít hiểu biết về cải lương. Do vậy cải lương thiếu kịch bản trầm trọng. Nếu xuất hiện người tài thì họ cũng không có đất dụng võ khi cải lương không mấy ai xem.

Do không được đào tạo chuyên ngành nên hầu như không có đạo diễn cải lương đúng nghĩa, các đạo diễn gạo cội cũng gần như tuyệt tích. Lương bổng thấp, các nghệ sĩ làm thêm nghề tay trái mưu sinh dẫn đến tình trạng thiếu tâm huyết với vở diễn, hát nhép, thoại nhép… trong khi các tên tuổi diễn viên lừng lẫy một thời đều đã về chiều. Chất lượng vở diễn xuống thấp, diễn viên diễn dở thì lấy đâu ra khán giả mê cải lương như ngày xưa, trong khi họ đang được tiếp xúc với vô vàn loại hình nghệ thuật hấp dẫn khác?

Học tiền nhân để tìm đường vực dậy

Trước sự ngắc ngoải của sân khấu cải lương hiện nay, nghiên cứu sinh Đỗ Quốc Dũng, Khoa Văn hóa học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh đặt câu hỏi: "Tại sao ngày xưa trong hoàn cảnh đất nước vô cùng khó khăn, thiếu thốn nhiều mặt, nhất là điều kiện vật chất, phương tiện kỹ thuật, các yếu tố khoa học… mà tiền nhân ta để lại những thành tựu kịch bản văn học và các vở diễn vô cùng rực rỡ,  nhiều vở vẫn còn sức sống với thời gian; trong khi thời bây giờ, xã hội tiến bộ, đất nước phát triển toàn diện, đời sống vất chất lẫn tinh thần ngày càng nâng cao, khoa học phát triển mạnh… mà suốt từ sau năm 1990 đến nay chưa thấy có một vở diễn, kịch bản có sức sống lâu dài như trước; hàng trăm kịch bản đoạt giải thưởng, huy chương những mùa liên hoan, hội diễn khi qua rồi công chúng cũng không còn nhớ đến… Phải chăng những thành tựu còn chờ ở tương lai?". 

Ông cho rằng vấn đề này chúng ta cần nhìn lại cách nghĩ và cách làm của người xưa qua các giai đoạn để làm bài học kinh nghiệm. Đồng thời kết hợp với tư duy mới, nhịp sống thời đại mới vào những kinh nghiệm truyền thống mà người xưa để lại.

Theo nhà nghiên cứu Trần Nhật Vy, có ba yếu tố để cải lương sống được: tuồng hay, hấp dẫn; đào kép hát hay, diễn giỏi; khán giả yêu mến. Đây là ba yếu tố sống còn, rất đơn giản nhưng không dễ thực hiện. Muốn có tuồng hay thì cần soạn giả có tài, đạo diễn có tay nghề và nội dung luôn gắn với đời sống. Ông cho rằng sở dĩ cải lương giai đoạn 1955-1975 vẫn đỏ đèn, đông khách dù chiến tranh liên miên, dù hoàn cảnh thiếu thốn khó khăn vì khi đó các nghệ sĩ không bó mình trong một góc an toàn nào đó, không ôm quá khứ vàng son mà chuyển mình và lăn vào cuộc sống sôi động như chính cái tên của môn nghệ thuật này.

"Để thành một nghệ sĩ giỏi, các nghệ sĩ cần qua nhiều cuộc cọ xát, rèn luyện. Xưa gánh hát nhiều, người nghệ sĩ các hạng lăn lộn với nghề từ thuở thiếu niên và đều có chỗ dụng võ. Họ đi từ gánh hát này sang gánh hát khác, từ nơi này sang nơi khác, gặp đủ loại thầy, đủ loại khán giả. Từ đó họ định hình được chính bản thân và cũng học hỏi được nhiều. Do đó, khi đã trở thành ngôi sao họ luôn có cái riêng về hát, diễn.

Nói theo kiểu bây giờ là những ngón độc mà người khác không có. Riêng khán giả, muốn có khán giả biết và yêu cải lương thì phải cần giáo dục. Nhiều MC trên truyền hình chưa phân biệt được cải lương và vọng cổ. Khó mà trách được họ. Không hiểu thì công chúng không thích, không yêu cải lương" - nhà nghiên cứu Trần Nhật Vy phân tích.

Nhu cầu học nghề và truyền nghề của cải lương là có thật nhưng dường như chưa hề được chú ý. Phải có những trường chuyên dạy những người có lòng, có năng khiếu với nghệ thuật cải lương. Không chỉ dạy hát mà dạy cả thủ thuật bí truyền trong cách diễn. Dạy cách soạn một tuồng cải lương như thế nào. Bởi viết tuồng cải lương không như cách viết kịch bản phim hay thoại kịch. Người viết ngoài tài năng, kiến thức còn phải có hiểu biết về ngũ âm và âm luật của nhạc tài tử…

Cách xét chọn nghệ sĩ để vinh danh của Giải Thanh Tâm cũng rất đáng học hỏi. Người nghệ sĩ không được đăng ký tranh giải và không hề biết ban giám khảo là ai, chấm điểm mình khi nào. Ban giám khảo là những đạo diễn, thầy tuồng, ký giả nổi tiếng am hiểu cải lương âm thầm đến từng đoàn hát xem nghệ sĩ diễn để tìm những nghệ sĩ đủ tài và đức. Có như thế những nghệ sĩ được vinh danh mới thật sự xứng đáng, đi tiếp đường dài chứ không phải lóe lên rồi vụt tắt như quán quân ở nhiều giải thưởng cải lương hiện nay.

Mai Quỳnh Nga

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).