Y Miếu - Khách đến mộng không thành

Nếu đi theo bảng chỉ dẫn từ ngoài phố Nguyễn Khuyến tìm đến Y Miếu-Thăng Long (Y Miếu) thì rối mù phương hướng. Y Miếu nằm trong con phố cùng tên. Nhưng giờ bảng tên phố mờ mịt khó nhận ra nét chữ sơn. Đầu phố Y Miếu cắt ngang đường Nguyễn Như Đổ. Cuối phố giao cụt với ngõ chợ Ngô Sĩ Liên. Giữa hai dẫy số nhà là ngôi chợ kéo dài hết con phố, diện tích gần ngàn mét vuông. Y Miếu là đường phố chật chội nhất thế giới. Thật vậy!

Chốn tĩnh lặng giữa cồn cào phố chợ

Nếu Y Miếu được coi là chốn linh thiêng thờ Tổ ngành Y nước nhà thì nay vây chung quanh là những quán hàng luôn ồn ã bán mua. Xưa nghe các cụ tả Y Miếu được xây trên một diện tích thênh thang cả mẫu đất. Viễn cảnh thời gian đã trôi đi hàng trăm năm bỗng hiện về trong tôi: "Xanh xanh dẫy liễu ngàn thông/ Cỏ hoang lối mục rêu phong dấu tiều/ Một vùng non nước đìu hiu/ Phất phơ gió trúc dập dìu mưa hoa". (Bích Câu kỳ ngộ). Còn đâu hồn đất thơm thảo của phường Bích Câu ngày nào.

Một tấm bia ở chùa Phổ Giác tại phố Ngô Sĩ Liên còn ghi Y Miếu được xây dựng từ năm 1774. Vậy mà đã gần 250 năm. Khu đất có sông nước bao quanh tạo nên quần thể Văn Miếu, Võ Miếu và Y Miếu không còn vẹn nguyên. Tất cả đã là dĩ vãng với hình ảnh: "Thềm phủ dấu rêu biếc/ Sân u, màu cỏ xanh/ Chim kêu hoa tự rụng/ Khách đến mộng không thành" (Thơ Nguyễn Như Đổ).

8-khám thờ hai vị danh y trong y miếu.jpg -0
Khám thờ hai vị danh y trong Y Miếu.

Quả vậy giờ đây khách thập phương kéo đến với "mộng không thành" bởi lẽ Y Miếu lọt thỏm trong sự xô bồ chợ búa rộn rã ngày đêm. Tứ phía Y Miếu là những quầy hàng chen chúc. Đường đi vào bên số chẵn phố để vào miếu chỉ rộng chừng mét rưỡi. Những ki ốt bán thịt, bán bún ồn ã chào hàng.

Đường ngõ Ngô Sĩ Liên nằm phía bắc sau chợ nhộn nhịp hơn cả. Số nhà 26 cuối phố Y Miếu là cả một dãy hàng bán thực phẩm. Cách đấy không xa còn có hàng bán bún bung chân giò nổi tiếng. Họ lấy bún ở cuối phố Y Miếu về bán.

Hàng bún bung này nổi tiếng cả Hà Nội với danh xưng là "Bún chửi". Hai chị em chủ nhà hàng chăm chỉ và nấu bún bung kèm móng giò và lưỡi lợn thơm có vị riêng biệt đậm đà. Khách đến nườm nượp để xe chật cả đường ngõ chợ Ngô Sĩ Liên. Cô chị đanh đá và hay cáu gắt với người đến ăn. Đôi khi chị ta còn hay văng tục và mắng khách hàng đến ngọt mồm nên quán mang hỗn danh "Bún chửi" là thế.

Nhưng phải nói chị này có năng khiếu hài hước. Đôi khi còn nói mát khách hàng kèm theo những danh từ ngụ ý như "bướm, cò, chim, chuột" làm khối anh đỏ mặt vì ngượng ngùng. Nay cửa hàng này dọn về đầu chợ thuộc phố Ngô Sĩ Liên cách xa Y Miếu hơn chút. Nhưng đường vào Y Miếu vẫn y nguyên. Tiếng dao thớt cành cạch vang dội át cả tiếng chuông nhà chùa Quang Minh, bên cạnh Y Miếu.

Ấy là còn chưa kể đến đất của Y Miếu và chùa Minh Quang còn bị lấn chiếm và lô nhô nhà cửa xung quanh. Chùa Minh Quang quây tường từ trước còn dành đất lại phần nào. Riêng đất Y Miếu thì thôi rồi. Giờ còn chừng hơn 150 mét vuông. Những nhà xây lấn chiếm đã chuyển qua mấy đời chủ lại có giấy sổ hồng nên Y Miếu trở nên nhỏ nhoi côi cút giữa cồn cào phố chợ. Đến mảnh sân chừng hơn chục mét vuông cũng bị mọi người để xe máy chật hết nẻo vào. Cổng Y Miếu trở thành cổng chung cho miếu và những ngôi nhà đã ở từ xưa.

Chút chạnh lòng buồn bã cho tôi mỗi khi đến đây. Bởi đâu còn xứng với nơi: "Miếu thờ tiên thánh/ Để tiếng lâu dài/ Từ trước hiếm có/ Việc này sáng ngời/ Xin khắc bia đá/ Để nhớ công người". Thị trường thật khắc nghiệt. Con người thường vô tâm. Đất lành thì có hạn. Giữa phố chợ chật ních Y Miếu trở nên lẻ loi trống vắng và bị lãng quên. Nhất là vào những ngày mưa nước ngập đường ngõ. Đâu đó lời của người xưa lại vọng lên theo tiếng chuông ngân: "Công danh trước mắt trôi như nước/ Nhân nghĩa trong lòng chẳng đổi phương" (Hải Thượng Lãn Ông)

Cõi lòng xưa vang vọng

Trông coi miếu giờ là bà Hoàng Thị Thảo (pháp danh Viên Minh) ở ngay phố chợ cách đó không xa. Bà nói một thời miếu bỏ hoang nên xin phường vào trông nom hương khói. Lễ hội đông nhất vào dịp tết Nguyên tiêu. Bà là người đã từng một thời bốc thuốc cùng gia đình nên muốn trông nom miếu Tổ nghề như một niềm an ủi cuối đời.

Chúng tôi không ngờ bà Thảo rất thuộc câu nói về y đức của Hải Thượng Lãn Ông: "Đạo làm thuốc là một nhân thuật, có nhiệm vụ giữ gìn tính mạng cho người ta, phải lo trước cái lo của người và vui sau cái vui của mình mà không cầu danh lợi, kể công".

Bà bỗng trầm ngâm trong câu chuyện khi nhớ đến gương sáng ngời của hai đại danh y Tuệ Tĩnh (1330/1400) và Hải Thượng Lãn Ông (1724/1791) đều quê ở đất Hải Dương xưa. Hai ngài đã để lại chục ngàn trang sách thuốc và tạo dựng y nghiệp cho nước nhà. Họ đã dốc lòng và trọn đời hy sinh cho nghề làm thuốc, chữa bệnh cứu người vượt qua những căn bệnh hiểm nghèo.

untitled-10.jpg -0
Y Miếu hiện nay lọt thỏm trong khu chợ đông đúc.

Đôi mắt bà Thảo bồi hồi nhớ lại cuộc đời lưu lạc của danh y thiền sư Tuệ Tĩnh khi bị lưu đầy sang đất Bắc (1385). Đó là câu chuyện buồn khi Tuệ Tĩnh ở tuổi xế chiều. Ông đã bị cống sang xứ người để chữa bệnh cho vua chúa nhà Minh. Cho dù được phong "Đại y Thiền sư" tại ngoại bang nhưng ông đã rơi nước mắt vì nhớ quê hương. Khi mất đi ngài đã để lại các bộ sách quý như "Nam dược thần hiệu" và "Hồng giác tự y".

Đặc biệt ngài đã để lại những nguyên tắc bất biến có tính định hướng khởi nghiệp qua những đúc kết chân lý: "Nam dược trị Nam nhân" và "Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần/ Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình". Đến cuối đời "Đại y thiền sư" đã ngã xuống nơi đất khách quê người đầy cô đơn. Ngài đã cho đề trên mộ với câu than buồn đến xót xa: "Ai về nước Nam cho tôi theo với!".

Sau đó thật cảm động khi chúng tôi cùng bà Thảo nhớ lại chuyện tình kỳ lạ có thật của Hải Thượng Lãn Ông. Đây là sự kiện đã được ông viết trong "Thượng Kinh ký sự" sau hơn 40 năm xa cách người mình đã từng gắn bó. Ở tuổi đôi mươi Lê Hữu Trác đã đính hôn với con gái của quan Tham chính thừa ty Sơn Nam (Bắc Ninh). Nhưng rồi cuộc sống tao loạn Lê Hữu Trác buộc phải cùng gia đình về quê mẹ ở Hương Sơn Hà Tĩnh mưu sinh. Họ đã tới nhà cô gái tạ lỗi và xin từ hôn. Nhưng ai dè hơn 40 năm sau (1783), Hải Thượng Lãn Ông được triệu về kinh chữa bệnh cho hai cha con chúa Trịnh, tình cờ gặp lại người đẹp năm xưa.

Hải Thượng Lãn Ông ngỡ ngàng và đau khổ khi biết cô gái đó đã thủ tiết đi tu xa lánh cuộc đời. Bà coi mình đã có một đời chồng cho dù đã bị từ hôn. Hải Thượng Lãn Ông cầu xin ni cô trở về quê mẹ cùng mình để báo đáp nghĩa xưa. Ông định xây chùa ở gần nhà cho ni cô tu hành đến trọn đời. Nhưng bà đã từ chối và sau đó nhắn lời chỉ xin cấp cho mình một cỗ quan tài bằng gỗ ở quê chồng. Hải Thượng Lãn Ông buồn rầu thương tiếc ngọc hoa nên đã tự trách mình: "Vô tâm nên nỗi lụy người ta/ Trông mặt nhau đây luống xót xa/ Gượng cười khôn giấu đôi hàng lệ/ Tóc bạc che mờ nửa mặt hoa/ Kiếp này hãy kết làm huynh muội/ Kiếp khác xin hoàn nghĩa thất gia/ Ai nỡ phụ ai, ai nỡ phụ/ Dở dang, dang dở biết ru mà" (Bản dịch của Ngô Tất Tố)

Vọng miếu

Nay trong miếu có điện thờ hai ngài được coi là Đại danh y nước nhà. Hải Thượng Lãn Ông tiếp tục sự nghiệp của Thánh thuốc Nam Tuệ Tĩnh và lập được nhiều công trạng. Cùng với tác phẩm văn học "Thượng Kinh ký sự", Hải Thượng Lãn Ông đã hoàn thành tổng tập "Hải thượng Y Tông Tâm Lĩnh" (28 tập gồm 66 cuốn). Ngài được coi là vị Tổ của ngành Y Việt Nam.

"Giải thưởng Hải Thượng Lãn Ông" có giá trị trao cho các thầy thuốc giỏi và xứng đáng vào đúng ngày hội rằm tháng Giêng. Đó cũng chính là dịp tổ chức kỷ niệm "Ngày truyền thống Y dược cổ truyền Việt Nam". Y Miếu chính là nơi diễn ra những sự kiện thiêng liêng đó. Hải Thượng Lãn Ông là một thầy thuốc có khí phách kiên định luôn sống với tấm lòng nhân ái. Ngài luôn gìn giữ phẩm chất cao quý của người thầy thuốc với tâm nguyện: "Sá chi vinh nhục việc đời/ Đem thân đại nghĩa vào nơi lâm tuyền".

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).