Xuống lòng đất cùng thợ mỏ

Thợ mỏ được ví là những người “ăn cơm dương gian, làm việc âm phủ” với biết bao gian nan và nguy hiểm. 

Thế nhưng khi được chứng kiến sự bình thản đi vào lòng đất mới thấy hết được ý chí kiên cường cùng với một sức khỏe bền bỉ và một tâm hồn lạc quan của những người thợ mỏ. Đó cũng chính là đặc trưng của thợ được hun đúc qua nhiều thế hệ bằng kỷ luật và tinh thần đồng tâm, hiệp lực…

Đường xuống “âm phủ”

Phải mất đến vài lần đăng ký, một số nhà báo chúng tôi mới được Công ty CP Than Hà Lầm (TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) sắp xếp đi cùng thợ mỏ xuống hầm lò mang “vàng đen” lên mặt đất. Bởi lẽ những quy định về an toàn của ngành Than nói chung và ở Công ty CP Than Hà Lầm nói riêng rất nghiêm ngặt. 

Có thể thấy trên khắp các công trường đâu đâu cũng bắt gặp những khẩu hiệu như: “Kỷ luật và đồng tâm”, “Văn hóa an toàn của thợ mỏ là con đường phát triển bền vững", "Suy nghĩ về an toàn, làm việc an toàn, gia đình đang đợi bạn ở nhà"…

Theo đó trước khi xuống hầm, cán bộ an toàn của Công ty cũng đã lưu ý các nhà báo để bảo an toàn thì máy ảnh, máy quay, điện thoại không được đem xuống mà phải dùng máy ảnh phòng nổ, có cảm biến đo khí dễ cháy. Đồng thời khi bước chân xuống lò, tất cả đều phải đi ủng, đội mũ bảo hộ, đeo đèn chống nổ trên đầu và chiếc bình ôxy cứu hộ. 

Riêng với chiếc bình ôxy cứu hộ, mặc dù chỉ dùng 1 lần, nhưng vô cùng cần thiết. Trong trường hợp gặp sự cố hoặc xuất hiện khí độc, người dùng giật nắp bình là sẽ có không khí sạch để thở trong vòng 2 giờ đồng hồ.

Sau cuộc họp bàn giao, phân công nhiệm vụ, tất cả những người tham gia cùng đồng loạt đứng dậy đồng thanh hô lớn ba lần "An toàn! An toàn! An toàn!". Mang trên mình bộ quần áo cùng đầy đủ thiết bị bảo hộ, chúng tôi bước xuống lò trong niềm háo hức xen lẫn sự hồi hộp và có phần lo lắng. 

Trong khi đó xung quanh những người đang bình thản, chúng tôi hiểu rằng, đó không chỉ là biểu hiện của bản lĩnh vững vàng mà còn là nét  đặc trưng của thợ mỏ, được hun đúc qua thời gian, trải qua nhiều thế hệ kỷ luật và đồng tâm mới tạo lập được.

Khi đưa chúng tôi đến công trường, Giám đốc Trần Mạnh Cường giới thiệu cách đây 8 năm, sau khi khởi công mở cửa lò bằng 3 giếng đứng. 

Trong đó giếng chính có chức năng vận tải than và đưa gió trời xuống lòng đất, đường kính D = 5m đến mức âm 345m, chiều dài giếng là 425m. Giếng phụ, có chức năng vận chuyển người, thiết bị, vật liệu, phế thải mỏ, đường kính D = 6,5m, chiều dài giếng là 395m. 

Còn lại là giếng đứng thông gió, có chức năng hút gió thải và thoát hiểm khi có sự cố, với đường kính D = 5m, đến mức âm 300, chiều dài giếng là 355m. 

Theo đó từ vị trí xuất phát độ cao 75m so với mực nước biển, những người thợ mỏ phải sử dụng chiếc thùng skip để đi xuống dưới mực nước biển 300m. Sau khoảng 3, 4 phút đồng hồ di chuyển vượt qua bóng tối, chúng tôi được đưa đến công trường rộng lớn tràn ngập ánh sáng đèn trong lòng đất. 

Khác hẳn với không khí yên tĩnh trên mặt đất, trong hầm lò inh ỏi tiếng máy móc gầm rú vọng từ phía xa. Càng vào sâu, không khí càng ngột ngạt hơn, mồ hôi bắt đầu túa ra. Nhưng cũng từ đây, những vỉa than lấp lánh ánh sáng li ti bắt đầu xuất lộ. 

Tiếp tục men theo bước chân của những người thợ mỏ, một bên là những máng cào than rì rì chạy. Từ xa đã thấy loang loáng ánh đèn mỏ và tiếng người, tiếng cuốc, nhộn nhịp và hối hả. 

Trên đoạn hầm lò chừng vài chục mét, những người thợ tất bật, người cuốc than, người điều chỉnh giá đỡ. Có quãng, than đùn ra lấp chật lòng hầm, chúng tôi phải nhoài người trườn qua những đống than mới đi tiếp được. Dòng suối than lấp lánh từ trong lòng đất hun hút tuôn ra, mải miết chảy về phía đường lò chính…

Và những chiến sỹ trong lòng đất

Khi đi đến gương than cuối cùng, ở độ sâu hơn 300m, nơi không khí đã có phần ngột ngạt, một nhóm thợ 20 người đang vận hành máy khấu than. Tất cả ai nấy mặt mũi lấm lem bụi than, chỉ đến khi cười mới lộ ra 2 hàm răng màu trắng… 

Chỉ tay về phía người thợ có dong dỏng cao, Chánh văn phòng Công ty CP Than Hà Lầm Phạm Quốc Hưng giới thiệu đó là anh Nguyễn Trọng Thái, người đã 23 năm làm việc dưới lòng đất. Và cũng là người giành nhiều giải thưởng, danh hiệu của Tổng Công ty Than và Khoáng sản Việt Nam. 

Đáng chú ý, anh Thái cũng là một trong những người đầu tiên đặt dấu chân xuống độ sâu 300m dưới lòng đất tại giếng lò này. Dấu chân ấy đã được Tổng Công ty Than và Khoáng sản Việt Nam đúc đồng để trưng bày tại phòng truyền thống.

Quả thật trong quá trình tìm hiểu về Công ty CP Than Hà Lầm, với hơn 3 nghìn công nhân, mặc dù được phân công làm việc theo ca ở nhiều công trường khác nhau, thế nhưng khi nhắc đến thợ lò Nguyễn Trọng Thái thì không ai không biết đến. 

Với vai trò là tổ trưởng tổ đào lò cùng hơn 20 năm kinh nghiệm, thợ lò Nguyễn Trọng Thái đã biết bao lần được ghi danh vào những kỷ lục của ngành Than.

Nguyễn Trọng Thái kể lại từ năm 1994, sau khi tốt nghiệp Trường Trung cấp Mỏ Việt – Xô, anh từ quê hương Hải Dương ra Quảng Ninh, đến đầu quân cho Công ty CP Than Hà Lầm. 

Chưa đầy 3 năm sau đó, Nguyễn Trọng Thái đã đoạt giải thưởng “thợ xuất sắc toàn ngành”. Theo đó Thái được đặc cách nâng lương và bổ nhiệm làm Tổ trưởng tổ đào lò của công trường kiến thiết cơ bản 1, có nhiệm vụ chuyên mở những đường lò cơ bản phục vụ các đơn vị khai thác than.

Từ đó cho đến nay, duy nhất công việc chỉ huy tổ thợ đào lò mang tên mình, tổ Nguyễn Trọng Thái luôn duy trì vị trí đứng đầu, không chỉ ở Công ty CP than Hà Lầm mà còn ở toàn ngành Than. 

Tính bình quân, mỗi năm tổ của Nguyễn Trọng Thái đào được khoảng 3km đường lò, một thành tích rất cao trong ngành Than. Không chỉ vậy tổ thợ đào lò của Thái còn đạt nhiều danh hiệu như: năng suất cao nhất và ít sự cố nhất; liên tục 7 năm liền dẫn đầu về sản lượng đào lò…

Nghề khai thác mỏ không chỉ gian nan mà còn cực kỳ nguy hiểm. Thực tế thì hằng năm, hằng tháng vẫn có những vụ tai nạn liên quan đến hầm lò. 

Cũng vì nguy hiểm nên ngay khi thành lập, mỗi đơn vị khai thác mỏ đã có đội cấp cứu mỏ, sau đó thì thành lập hẳn trung tâm cấp cứu mỏ. Công việc vất vả là thế, nguy hiểm là thế, nhưng với những người thợ lò luôn mang trong mình một ý chí kiên cường và một tâm hồn lạc quan để có thể bám trụ với nghề. 

“Thợ mỏ mà không có lòng yêu nghề thì khó lòng bám trụ. Nhiều người học xong, xin đi làm nhưng chỉ được một thời gian ngắn đã xin nghỉ việc vì nghề thợ mỏ không dành cho những người… yếu tim” – thợ lò Nguyễn Hữu Thành, Công ty CP Than Hà Lầm tâm sự.

Tuy nhiên cũng theo anh Trần Văn Thế, cán bộ Phòng An toàn lao động, thì với công việc có tính đặc thù như thợ lò thì không thể nói là phó mặc cho… số phận. Bởi lẽ nó khác biệt hoàn toàn so với trên mặt đất, làm việc bằng ánh sáng đèn lò. 

Vì thế, dù sức khỏe tốt đến bao nhiêu, kỹ thuật giỏi đến đâu thì cũng phải tuyệt đối tuân thủ kỷ luật để đảm bảo an toàn, không sẽ xảy ra tai nạn lao động ngay.

Sau hơn 3 giờ chứng kiến sự vất vả của công nhân trong hầm lò, chúng tôi lại theo thùng skip ngược lên mặt đất. Theo chân cán bộ công đoàn Công ty CP Than Hà Lầm đi thăm một số công trình phúc lợi, từ nhà giao ca, khu tắm giặt, đến hội trường chỗ, sân bóng đá, công viên, mới cảm nhận được hết sự quan tâm, đầu tư về vật chất và tinh thần đối với người lao động. 

Trước đây, thợ lò mỗi khi vào ca phải xếp hàng chờ đợi lấy trang thiết bị và bảo hộ lao động. Còn bây giờ hầu hết các đơn vị khai thác đều đã cải tạo lại dây chuyền cấp phát bảo hộ lao động. 

Mỗi thợ lò có một tủ sắt, trong đó để những bộ quần áo, ủng được giặt sạch sẽ, cùng mũ bảo hộ, đèn pin. Cùng với đó, chế độ ăn uống đã cải thiện rất nhiều, người lao có thể thoải mái lựa chọn những món ăn mình yêu thích…

Vào nghề đã gần 5 năm, công nhân Trần Văn Thạo, quê ở Hải Dương cho biết trước đó đã từng làm rất nhiều công việc lao động chân tay, dù vất vả nhưng thu nhập của thợ lò rất tốt. Nhiều thợ lò đã có mức thu nhập bình quân mỗi năm trên 200 triệu đồng, thậm chí có nơi còn cao hơn đến 300 triệu đồng. 

Không chỉ trả lương cao, tất cả các công ty khai thác than đều tập trung rất nhiều vào việc chăm lo đời sống cho người lao động. Do đó Thạo cũng như nhiều công nhân trẻ khác xác định tư tưởng sẽ gắn bó lâu dài ở đây.

Công Huy

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.