Xuân Diệu và thơ Hồ Xuân Hương

Được gặp nhà thơ Xuân Diệu nhiều lần, tôi thấy lần nào gặp dịp đụng đến những phát hiện mới rất có cơ sở về Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu đều tỏ ra... khó chịu. Tôi có cảm giác Xuân Diệu mê thơ Nôm (được coi là của) Hồ Xuân Hương đến... cùng cực, và khen đến mức không thể khen hơn được nữa.

Chưa có nhiều người biết được rằng, nhà thơ Trần Nhuận Minh còn là một nhà nghiên cứu, đúng với nghĩa của danh xưng này.

Chỉ nói riêng về vấn đề rất phức tạp là thơ Hồ Xuân Hương, anh đã theo dõi rất kỹ, tổng hợp tư liệu, tiếp thu kết quả của các nhà nghiên cứu lâu nay, và đưa ra một kết luận chắc là làm... sững sờ nhiều người, kể cả một số nhà thơ, nhà nghiên cứu và bạn đọc.

Kết luận ấy có trong bài “Vấn đề Hồ Xuân Hương, đã rõ”, in trong quyển sách “Thời gian lên tiếng” của Trần Nhuận Minh, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2013. Kết luận nói trên của nhà thơ Trần Nhuận Minh như sau:

“Toàn bộ thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương... đều không phải của Hồ Xuân Hương” và theo anh, công trình rất nổi tiếng “Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm” của Xuân Diệu “là không có cơ sở khoa học, dứt khoát sẽ tự sụp đổ, chỉ có sớm hơn hay muộn hơn mà thôi”.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương trong một họa phẩm.
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương trong một họa phẩm.

Tôi còn đặc biệt chú ý đến đoạn văn dưới đây, Trần Nhuận Minh viết ngay sau đó:

Tôi rất nhớ một lần, tôi đến thăm Xuân Diệu, sau khi có một hội nghị bàn về thơ Hồ Xuân Hương... ở Viện Văn học. Xuân Diệu nói với tôi, giọng rất bực dọc, tôi nhớ vô cùng chính xác và tôi chịu trách nhiệm về sự chính xác này, khi lần đầu tiên tôi công bố ra đây: “Có một Hồ Xuân Hương giả mà cả thế giới nó sợ thật, lại không sướng hay sao. Lại còn tìm ra với tìm vào!”.

Dù chưa được nghe tận tai nhà thơ Xuân Diệu nói câu ấy, tôi vẫn rất tin đó chính là lời Xuân Diệu mà Trần Nhuận Minh đã nhắc lại.

Được gặp nhà thơ Xuân Diệu nhiều lần, tôi thấy lần nào gặp dịp đụng đến những phát hiện mới rất có cơ sở về Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu đều tỏ ra... khó chịu. Tôi có cảm giác Xuân Diệu mê thơ Nôm (được coi là của) Hồ Xuân Hương đến... cùng cực, và khen đến mức không thể khen hơn được nữa. 

Tôi nhớ, trước năm 1975, vừa nghe tin giới giáo dục Sài Gòn không cho dạy trong trường trung học thơ (lâu nay được coi là của) Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu lập tức viết bài... phản đối (bài này đăng trên tạp chí Văn nghệ), về sau Xuân Diệu còn nhắc lại trong “Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm”.

Ngày trước, đọc những bài bình luận của Xuân Diệu về thơ (được cho là của) Hồ Xuân Hương, khi còn nghĩ đó chính là thơ của bà, tôi đã có những lúc cảm thấy... khó chịu, vì Xuân Diệu khen ngợi một cách... quá quắt.

Hãy đọc đoạn này, in trong quyển “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”, tập II, trang 6 (Nhà xuất bản Văn học, 1982):

“Thử lấy một bài thơ như bài “Quán Khánh” với những câu:

Đứng chéo trông theo cảnh hắt heo
Đường đi thiên thẹo quán cheo leo...

Bài thơ này chỉ có thể làm trong thời đại cũ, một thời đại cuối vua Lê chúa Trịnh, tất cả mọi cái, từ vua chúa đến quan lại, sư mô... đều “lộn lèo” cả rồi! Vì xã hội đã lộn tùng phèo như vậy nên Xuân Hương mới “đứng chéo trông theo cảnh hắt heo” chứ không chịu đứng thẳng hai chân một cách trang nghiêm (theo tôi nghĩ, trước hết đây là đứng tréo, tréo hai chân lại - chữ tréo sinh ra chữ trẹo- tréo chân phải sang bên trái, chân trái sang bên phải, đứng một cách xách mé, sẵn sàng trêu chọc, thách thức; tuy nhiên, chữ chéo cũng có nghĩa, tức nghiêng lệch, đứng một bên chứ không đứng vào giữa; đứng tréo chân có nghĩa đậm đà hơn là đứng chéo lệch, nhưng ở Bắc bộ hay viết lẫn (và đọc) tréo ra chéo).

Xuân Hương mới làm một bài thơ với toàn những nét khập khiễng cong quẹo (Xỏ kẽ kèo tre đốt khẳng kheo), và kết bài thơ bằng một con diều ở trên trời nó cũng “lộn lèo”! Đó là một sự chế giễu, một cái ngứa gan của Xuân Hương đối với xã hội cũ”!

Hay là đọc một đoạn này nữa, cũng ở sách trên, trang 96-97, Xuân Diệu tán về bài thơ “Tát nước”:

“Toàn bài “Tát nước” rất có lớp lang. Hạn hán như vậy thì ai đi tát nước, ai đi cứu nước? Mở đầu lịch sử độc lập tự do của nước ta là Hai Bà Trưng, rồi Bà Triệu, rồi mới đến kẻ mày râu. Đồng khô cỏ cháy như vậy thì Rủ chị em ra tát nước khe -  đàn bà ra chống hạn. Tát nước thì phải đem dụng cụ đi, Lẽo đẽo chiếc gàu ba góc chụm (chú ý những chữ “ba góc chụm” sinh động biết bao, cũng như trong thơ vịnh quạt: Chành ra ba góc da còn méo, sinh động biết bao)! Đến nơi thì phải be bờ: Lênh đênh một ruộng bốn bờ be.

Đến hai câu 5, 6 thì lại có sự rất lạ:

Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa

Gàu nước đổ xuống, nước kêu xì xòm; trong khoảng giữa hai lần vục gàu, nước lâm thời lắng lại, in hình người đàn bà tát nước dốc ngược dưới đáy khe, rồi nước lại đổ, gàu lại vục, lại xì xòm, mãi như thế. Sự rất lạ ở câu thứ 6:

Nhấp nhểnh bên ghềnh đít vắt ve

Thường tình thì người ta đọc câu này lướt đi chẳng thấy gì cả. Một cách đọc rất là quan liêu; vô tâm chi lắm ai ơi! Thơ hay, rất kỵ cái người vô tâm... tôi cũng xin phép liệt tôi vào, ở trường hợp này. Sau đó tôi đã nhận thức được có thể nói là cái kỳ diệu trong câu thơ bị bỏ sót này. 

Ghềnh là một cái gì to lớn có đá lô nhô, theo luật tương xứng của sự vật thì bên ghềnh phải có một cái núi, một cái đồi, hay ít hơn, một cây đa, hoặc một cái miếu sơn thần, nghĩa là một cái gì khá to lớn hơn. Ấy thế mà Hồ Xuân Hương đặt ở bên ghềnh một cái đít của người đàn bà, nghĩa là cái mông này vĩ đại, cái mông nở nang của người đàn bà lao động, chứ không phải cái đít mảnh khảnh của cô tiểu thư ăn không ngồi rồi! 

Ngày xưa giữa cánh đồng, ai dám in lên nền trời? Họa chăng có cái mái đình cong cong của ông thần thành hoàng; ấy thế mà Hồ Xuân Hương dám cho in trên cái mũi ông trời cái mông vĩ đại của người đàn bà tát nước; xa xa bên ghềnh nhìn thấy nó! Tính tư tưởng của câu thơ cao biết bao, thú vị biết bao, biểu dương người phụ nữ lao động đến tót vời!

Hơn nữa cái đít ấy lại vắt ve, nghĩa là cong cớn lên. Há có phải chỉ nói vậy cho vui. Tại sao mà vắt ve? Tại vì nhấp nhổm, lưng có nhấp nhổm, cúi xuống thật thấp, thì đít mới vắt ve, vểnh lên thật cao; sinh động biết chừng nào! Nghĩa là người đàn bà lao động cật lực”!

Những năm về sau, đọc lại các bài viết của Xuân Diệu, khi đã tin rằng những bài thơ Nôm kia, hoặc hoàn toàn không phải của Hồ Xuân Hương, hoặc rất nhất có khả năng là của Hồ Xuân Hương, tôi lại càng khó chịu hơn. Nghĩa là “Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm” (và những bài viết khác về Hồ Xuân Hương) của Xuân Diệu đã sụp đổ trong tôi lâu rồi (mặc dù nhà thơ Xuân Diệu có tặng tôi bộ sách “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”, trong đó có in bài này).

Được nhà thơ Trần Nhuận Minh cho biết câu nói khá... kỳ trên kia của nhà thơ Xuân Diệu, tôi cũng như anh (và chắc là nhiều người) lại càng không còn tin vào “Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm” của Xuân Diệu nữa, vì nó không có cơ sở khoa học. Nó cảm tính. Nó giả tạo.

Cũng nên bổ sung vào kết luận của nhà thơ Trần Nhuận Minh một điều không kém phần quan trọng: Cùng với “Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm”, nhà thơ Xuân Diệu còn thường cho in liền đó bài “Tính tư tưởng trong ba bài thơ của Hồ Xuân Hương”, cũng với một cách nhìn, cách nghĩ, cách bình luận đầy cảm tính và giả tạo tương tự.

Nhân đây, tôi muốn bàn với nhà thơ Trần Nhuận Minh một chuyện. Ở quyển sách “Thời gian lên tiếng” nói trên của anh, trang 41, Trần Nhuận Minh viết:

“Xuân Diệu khẳng định: đặc trưng để bà (Hồ Xuân Hương-HD) ám chỉ cái ấy của phụ nữ và chuyện ấy trong buồng kín, tạo thành đặc sắc “có một không hai” trong văn học Việt Nam, có lẽ trong văn học thế giới. Đó là một kĩ nữ”, mà các quyển “Từ điển tiếng Việt” đều ghi kĩ nữ là gái mại dâm (là làm đĩ)”.

Công trình “Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm” được in đi in lại khá nhiều lần. Không biết nhà thơ Trần Nhuận Minh đọc bản in nào. Chả lẽ anh đọc phải bản đã in sai chữ kỳ ra chữ kỹ. Mà theo kiểu in lâu nay, các dấu rất hay bị mờ, rất dễ lẫn dấu huyền và dấu ngã.

Cứ như hai bộ sách mà tôi có sẵn trong tay là “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” (Nhà xuất bản Văn học, 1982) ra “Toàn tập Xuân Diệu” (Nhà xuất bản Văn học, 2001) thì hai chữ kĩ nữ mà nhà thơ Trần Nhuận Minh nhắc (nhầm) chính là hai chữ kỳ nữ mà nhà thơ Xuân Diệu viết (Kỳ nữ: người đàn bà kỳ lạ). Chắc nhà thơ Xuân Diệu không mắc sai lầm sơ đẳng này (anh không thể viết kỹ nữ).

Cũng cần lưu ý thêm rằng, trên sách báo của ta nhiều năm nay, hai chữ y và i chưa được viết thống nhất. Ở đây, tôi giữ nguyên cách viết khác nhau của hai tác giả: nhà thơ Xuân Diệu viết kỳ nữ, nhà thơ Trần Nhuận Minh viết kĩ nữ.

Hồng Diệu

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).