“Vườn”- Một mảnh tâm hồn Việt

Mỗi nghệ sỹ lớn đều sáng tạo một biểu tượng riêng để gửi vào đó tư tưởng, tình yêu, những khát khao, mơ ước... Không khó để nhận ra có một biểu tượng văn hoá mang rõ bản sắc Việt, tâm hồn Việt trong sáng tác của các nhà thơ, nhà văn lớn. Đó là biểu tượng vườn.

Nguyễn Trãi là nhà quân sự, nhà ngoại giao, nhà địa lý, nhà thơ... Ông còn là nhà mỹ học có một quan niệm riêng về cái đẹp luôn trong trạng thái non tơ đang cựa quậy chứ không tròn trịa trong thời viên mãn: “Xuân chầy liễu thấy chưa hay mặt/ Vườn kín hoa truyền mới lọt tin/ Cành có tinh thần ong chửa thấy/Tính quen khinh bạc bướm chăng gìn/ Lạc Dương khách ắt thăm thinh nhọc/ Sá mựa cho ai quẩy đến bên” (Đầu Xuân đắc ý, Thơ Nôm).

Vì xuân đến chậm nên liễu chưa thấy mặt, “Vườn kín hoa truyền mới lọt tin” tức hoa mới chớm nụ. Hương hoa mới chớm bay ra khỏi vườn kín nên “ong chửa thấy” mà tìm đến nhưng bướm thì chẳng biết giữ gìn gì cứ vô tư đậu vào cành. Đúng là thế giới của cái đẹp “non tơ phong nhụy”, tất cả như đang phập phồng xuân khí.

Đất Lạc Dương (là kinh đô Trung Quốc thời Ngũ đại) từng là nơi tụ hội các thi nhân, tuy rất đẹp nhưng vườn ta đẹp cũng không kém nên ta chẳng cho (sá mựa) ai quẩy xuân này đến đó mà đem cái đẹp đi. Cũng chỉ mạo muội “diễn nôm” câu thơ để thấy phần nào cái đẹp của ý thơ phải nói là tuyệt bút này. Hình tượng “vườn” ở đây vượt lên trên ý nghĩa của mảnh vườn thông thường để vươn tới ý nghĩa là thế giới của cái đẹp!

Vườn tuy có cúc chửa đâm hoa/ Phong sương đã bén biên thi khách/ Tang tử còn thương tích cố gia/ Ngày khác hay đâu còn việc khác/ Tiết lành mựa nỡ để cho qua” (Về Côn Sơn ngẫu tác ngày Trùng cửu, Thơ Nôm). “Tiết lành” là thời điểm đẹp nhất phải là “cúc chửa đâm hoa”, sương nhẹ đủ để bám vào thi nhân, là cây dâu (tang tử) cũng như con người biết thương nhớ nhà cũ (cố gia)…

Thế giới cái đẹp hẳn nhiên phải xa chốn bụi bặm cửa quyền: “Con lều mọn mọn đẹp sao!/ Trần thế chẳng cho bén mấy hào/ Khách lạ đến ngàn, hoa chửa rụng/ Câu mầu ngâm dạ, nguyệt càng cao/ Những màng lẩn quất vườn lan cúc/ Ắt ngại lanh chanh áng mận đào/ Ngựa ngựa xe xe la ỷ tốt/ Dập dìu là ấy chiêm bao” (Thuật hứng VII, Thơ Nôm).

Vườn thôn Vĩ Dạ (Huế).
Vườn thôn Vĩ Dạ (Huế).

Một thế giới tiên của “chiêm bao” nơi ngàn xa: con lều nhỏ, hoa, câu thơ hay, trăng, vườn lan cúc… có “khách lạ” nhưng dứt khoát không phải là người nơi “áng mận đào” (tức chốn công danh) và hẳn phải là người tri âm với cái đẹp! 

Lại cũng chính Nguyễn Trãi muốn trở thành một nông dân: “Cày ruộng cuốc vườn dầu hết khỏe/ Tôi Đường Ngu ở đất Đường Ngu” (Trần tình 7, Thơ Nôm). “Đừờng Ngu” là thời thái bình thịnh trị, tức ông khát khao sống và lao động thực thụ trong thời hoà bình.

Mảnh vườn là thế giới của cái đẹp, là nơi nương náu, cũng là khát vọng hoà bình của Ức Trai tiên sinh.

Còn đây là “mảnh vườn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Tùng hạ nguyệt lai kim toản toái/ Trúc biên phong đáo ngọc tông tranh - Trăng dọi cây tùng, rải xuống những hạt vàng ánh sáng nhỏ li ti/ Gió thổi bờ tre, cọ xát tạo nên tiếng lanh canh như ngọc (kêu)” (Tân quán ngụ hứng 55).

Cũng là một biểu hiện của cái đẹp. Mà cái đẹp luôn không đi cùng công danh, vì: “Công danh bất hệ nhất hư chu/ Liêu hướng điền viên mịch thắng du - Công danh như con thuyền rỗng, chẳng buộc vào đâu/ Hãy hướng về ruộng vườn mà tìm thú ngao du thắng cảnh” (Ngụ hứng 4).

Trạng Trình như ông tiên nhàn làm thơ. “Vườn” trong thơ ông vừa là cảnh tiên vừa là cảnh thực, hòa vào nhau, khó phân biệt: “Viên tại Vân am trắc/ Luân ánh trần bất đáo/ Hoa trúc thủ tự thực/ Trượng lũ tập hoa hương/ Trản giả xâm hoa sắc/ Hạc thổ phanh trà yên/ Ngư thôn tẩy nghiễn mặc/ Khiển hứng nhậm thi cuồng - Vườn nằm bên cạnh am Mây/ Ánh nắng chiếu xuống không có bụi/ Rặng tre hoa, tự tay trồng/ Chống gậy đi, dép thơm mùi hoa/ Nâng chén ngọc màu hoa óng ánh/ Hạc nhả khói khi pha trà/ Cá đớp mực lúc rửa nghiên/ Thỏa hứng mặc sức thơ cuồng” (Hựu thập nhị vận). Con người cũng vừa như là tiên, vừa như là thực. Trong sáng tuyệt đối. Tự do tuyệt đối. Cũng khó làm rõ cảnh đẹp làm nên thơ hay thơ viết (vẽ) nên cảnh đẹp!?

Nguyễn Khuyến là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” nên “vườn” trong thơ ông xuất hiện càng nhiều, ngay thơ chữ Hán đã có tên ba bài mang hình tượng này: “Thái viên” (Vườn rau), “Giới viên” (Vườn cải), Tiểu viên (Vườn nhỏ); thơ tiếng Việt có hai bài: “Trở về vườn cũ”, “Uống rượu ở vườn Bùi”. Tiêu biểu cho “vườn” theo phong cách Nguyễn Khuyến là bài “Bạn đến chơi nhà”, hóm hỉnh, đùa vui mà tinh tế nhưng vẫn nêu được đặc trưng của mảnh vườn Việt: “Ao sâu nước cả, khôn chài cá/ Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà/ Cải chửa ra cây, cà mới nụ/ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa”.

Ngoài tư cách nhà chính trị, nhà quân sự, nhà thơ,... Bác Hồ của chúng ta là người làm vườn đích thực. Bác rất yêu vườn, nhà Bác ở cũng trong vườn “Nhà gác đơn sơ một góc vườn” (Tố Hữu). “Việc quân, việc nước đã bàn/ Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau”. Hồi kháng chiến, Bác trồng rau nuôi gà trong vườn để tăng gia, khi hoà bình Bác thêm trồng hoa. Mảnh vườn trong thơ Bác là biểu tượng cho sự hoà nhập thiên nhiên, cho tình yêu lao động, yêu cái đẹp, yêu con người.

Trước 1945, trong Thơ Mới có nhiều hình ảnh vườn nhưng ấn tượng nhất là mảnh vườn thôn Vỹ của Hàn Mặc Tử: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Nếu trong Thơ Mới còn thiên về miêu tả “vườn” thì sau 1986, sự miêu tả ít đi để tăng cường tính khái quát, do vậy chất biểu tượng đậm, sâu sắc hơn. Trong tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu như “Sống mãi với cây xanh”, “Phiên chợ Giát”, một nghĩa phái sinh của “vườn” là “đất” được nâng lên như một “mẫu gốc”, thành Mẹ Đất nuôi nấng, bao bọc con người. Ma Văn Kháng với “Mùa lá rụng trong vườn”, “vườn” được hiểu thiên về nghĩa biểu tượng: những giá trị cội rễ có nguy cơ lung lay khi cơn lốc thị trường tràn đến.

Thơ Lưu Quang Vũ có rất nhiều “vườn”: “Một vườn xoài chạy dài thăm thẳm”, “Nhớ nỗi nhớ của vườn xưa tội quá”, nhắc đến thơ ông là phải nhớ đến hình ảnh “Vườn trong phố”. Nhưng khái quát thành biểu tượng thì phải trong kịch, tiêu biểu là vở “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”.

Mảnh vườn của nhân vật Trương Ba mang tính biểu tượng cho tâm hồn chủ nhân bình dị, trong sáng. Khi hồn anh hàng thịt nhập vào Trương Ba thì cây cối trong vườn là nạn nhân của sự dung tục, tầm thường “làm gẫy tiệt mấy cái chồi non”, “giẫm lên làm nát cả cây sâm quý”. Cuối vở hình ảnh nhân vật cái Gái ươm mấy hạt na để “những cái cây nối nhau mà lớn lên, mãi mãi” đậm tính biểu trưng... Truyện vừa “Mảnh vườn xưa hoang vắng” của Đỗ Chu thật ấm áp với biểu tượng ngôi nhà được dựng trên “mảnh vườn xưa”. “Xưa” thì hoang vắng, “nay” thì hồi sinh. Nhìn chung tính biểu tượng góp phần để văn xuôi Đỗ Chu giàu chất thơ, nhẹ, tinh tế, sâu lắng...

Không phải ai cũng có thể kiến tạo được biểu tượng, phải giàu vốn sống, vốn văn hoá, hiểu đời, nhất là làm chủ một nghệ thuật cấu trúc hình tượng, vì biểu tượng giống như một cơ thể sống vậy.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).