Vua Trần Nhân Tông và sách lược ngoại giao “cây tre”

Sách lược ngoại giao “cây tre”, thực ra là sách lược ngoại giao “Nội cương ngoại nhu” (Trong cứng, ngoài mềm) rất khôn khéo của nước ta, vốn đã có từ thời Triệu Vũ Đế, vua nước NAM VIỆT lãnh đạo các tộc Bách Việt, khi phải đối diện với người láng giềng “to béo” hơn ta.

Các vua nhà Trần nước Đại Việt đã tiếp thu và thực hiện rất thành công sách lược ngoại giao đặc sắc, để giữ vững hòa hiếu và độc lập của đất nước mình. Bài thơ “Tiến sứ Bắc Ma Hợp, Kiều nguyên Lãng” của vua Trần Nhân Tông là một trong rất nhiều những bài thơ tiếp sứ, tiễn sứ của người xưa.

tiễn sứ 1.jpg -0
Tiễn sứ.

TỐNG BẮC SỨ MA HỢP, KIỀU NGUYÊN LÃNG

Thiều tinh lưỡng điểm chiếu thiên Nam,
Quang dẫn thai triền dạ nhiễu tam.
Thượng quốc ân thâm tình dị cảm,
Tiểu bang tục bạc lễ đa tàm.
Tiết lăng chướng vụ thân vô dạng,
Tiên phất xuân phong mã hữu tham.
Đỉnh ngữ nguyên ôn Trung Thống chiếu,
Miễn giao ưu quốc mỗi như đàm.

Dịch nghĩa:

TIỄN BẮC SỨ MA HỢP, KIỀU NGUYÊN LÃNG

Hai ngôi sao sứ thần chiếu xuống trời Nam,
Ánh sáng dẫn theo cung độ mỗi đêm chiếu quanh ba vòng.
Ơn thượng quốc sâu sắc dễ cảm tình người,
Phong tục nước nhỏ đơn giản, thẹn lễ nghi có phần sơ suất.
Cờ tiết mao vượt qua lam chướng, ngài vẫn bình an.
Ngọn roi quất trong gió xuân, ngựa có ngựa kèm.
Xin hãy ôn lại lời nói “chuông vạc” trong tờ chiếu năm Trung Thống,
Để tránh cho nhau khỏi mối phiền “lo nước” luôn luôn nung nấu trong lòng.

Dịch thơ:

Hai ngôi sao chiếu trời Nam,
Theo cung độ, sáng muôn vàn ánh sao.
Cảm tình thượng quốc ơn sâu,
Nước Nam tục đạm, lễ hầu thẹn ghê.
Bình an cờ tiết quay về,
Gió xuân phơi phới, ngựa quê tiễn ngài.
Nhớ năm Trung Thống đừng sai,
Để xua đi những đêm dài nấu nung!

                (VŨ BÌNH LỤC dịch)

Sách "An Nam chí lược" của Lê Tắc có chép việc vua nhà Nguyên sai quan Thượng thư Ma-cáp-ma (Ma Hợp) và quan Thị lang bộ Lễ Kiều Tông Lượng (Kiều Nguyên Lãng) mang chiếu thư sang nước ta, chỉ dụ vua nhà Trần cứ theo lệ 3 năm sang “Thượng quốc” cống một lần, nhà Nguyên sẽ không sai sứ sang nữa. Đó là năm 1301. Bài thơ này vua Trần Nhân Tông viết nhân dịp tiếp sứ thần trong bữa tiệc tiễn đưa sứ thần nhà Nguyên năm ấy.

Bài thơ nhìn chung vẫn chỉ là ngôn ngữ xã giao như chúng ta vẫn thường thấy. Tác giả ca tụng hai vị sứ thần “thượng quốc”, tài đức sáng như sao Khuê, sao Đẩu, chiếu rọi khắp nhân gian. Chưa hết, tác giả lại còn kể lại cái “ơn sâu” của thượng quốc đối với nước Đại Việt nhỏ bé, đồng thời khiêm nhường vì “nước nhỏ lễ mọn”. Mừng hai vị sứ thần đường xa vạn dặm vẫn bình an với cỗ xe ba ngựa kéo oai phong. Thực ra, “xe có ngựa kèm” chính là xe ba ngựa kéo, có hai con ngựa kèm hai bên, chỉ dành cho những quan chức quý tộc cao cấp.

Tinh thần chủ đạo của bài thơ thể hiện ở hai câu cuối. Vua Trần Nhân Tông chân thành nói với hai vị sứ thần nhà Nguyên, rằng:

Xin (các ngài) hãy ôn lại lời nói “chuông vạc” trong tờ chiếu năm Trung Thống,
Để tránh cho nhau khỏi mối phiền “lo nước” luôn luôn nung nấu trong lòng.

Lời “chuông vạc” là gì vậy? Đó chính là lời nói hết sức hệ trọng, có quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Xưa đã có câu: “Nhất ngôn cửu đỉnh” (Một lời nói nặng hơn chín vạc). Vua Trần Nhân Tông khôn khéo nhắc nhở hai vị sứ thần thượng quốc, rằng các vị nhớ giùm cho lời nói của ngài Hốt Tất Liệt từng nói, vào năm Trung Thống nhà Nguyên (1260-1263). Thế là sao?

Theo sách "Đại Việt sử ký toàn thư", tháng 6 năm Trung Thống thứ 2 (1261), nhà Nguyên sai sứ sang dụ vua Trần, đại ý, các phong tục và quy chế về mũ áo cho các quan, nước ta được theo lệ cũ của mình mà sử dụng. Nhà Nguyên cũng đã răn bảo các viên tướng ở Vân Nam không được đem binh lấn cướp vùng biên giới và quấy nhiễu nhân dân nước ta nữa.

Nhắc lại việc này, vua Trần Nhân Tông muốn nhắc nhở hai vị sứ thần thượng quốc hãy nên nhớ nội dung tờ chiếu của ngài Hốt Tất Liệt, xem đó là lời nói có giá trị “Nhất ngôn cửu đỉnh” không thể bỏ qua. Người quân tử chính danh, tất phải hiểu biết ý nghĩa của lòng trung tín. Như thế, là để “tránh cho nhau khỏi mối phiền “lo nước” luôn luôn nung đốt trong lòng.

Cũng nên biết rằng, sau khi đánh bại giặc Nguyên Mông, triều Trần đã thực hiện sách lược ngoại giao “nội cương ngoại nhu” rất tài tình. Mong mỏi thế là rất chân tình. Còn như Hốt Tất Liệt có chịu “buông tha” cho nước Đại Việt nhỏ bé mà “ương ngạnh” hay không, phải chờ xem đã!

Khiêm nhường, mềm dẻo, tình lý buộc chặt vào nhau đầy sức thuyết phục, đó chính là giá trị căn cốt của bài thơ này!

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.