"Vụ án" xưa - từ góc nhìn nay!

Nhiều công trình sử học, văn học, báo chí… thời nay dùng từ “vụ án” để nói về câu chuyện Thái sư Lê Văn Thịnh (1038 - 1096) với tên gọi “Vụ án Thái sư Lê Văn Thịnh” hay “Vụ án hồ Dâm Đàm”… là không chính xác về khoa học. Vì làm gì có “án” mà thành “vụ”. Kết án một dân thường cũng phải có “nhân chứng”, “vật chứng” theo quan điểm “trọng chứng hơn trọng cung” để làm cho mọi người “tâm phục, khẩu phục”.

Hơn thế, đây lại là một Thái sư đầu triều có công lao lớn với đất nước, thì chắc phải đặt ở mức cao nhất về sự nghiêm túc, công bằng… Các sách sử chính thống xưa cũng chỉ là kể lại câu chuyện mang tính hoang đường, huyền thoại về nhân vật lịch sử có thật.

Đền Thái sư Lê Văn Thịnh (Bắc Ninh).
Đền Thái sư Lê Văn Thịnh (Bắc Ninh).

“Việt điện u linh” ghi: “Quan Thái sư Lê Văn Thịnh nuôi được một gia nô người Đại Lý (Vân Nam) có thuật đọc thần chú xong biến thành hổ báo. Văn Thịnh cố dỗ để dạy mình thuật ấy, học được thuật rồi, liền lập mưu giết tên gia nô và dùng thuật hại vua để cướp ngôi”. Kể lại chi tiết giống như trong “Đại Việt sử ký…”, nhưng sách này cụ thể hơn: “Nhà vua cả giận, sai lấy dây sắt xích (Thịnh) lại, bỏ vào cũi… Vua khen Mục Thận có công, cất làm Đô úy và sau thăng tới Phụ quốc tướng quân. Khi mất tặng chức Thái úy, dựng đền tạc tượng thờ”…

Một chi tiết khá ngờ ở đây: Chỉ nhờ cú “quăng lưới” mà chàng đánh cá Mục Thận được “cất làm Đô úy”, rồi “Phụ quốc tướng quân”, rồi “Thái úy”? Trước hết người cất nhắc như thế là “vô minh” vì trao những chức lớn như thế vào người ít học, lại chưa có quá trình làm việc, chưa “thực tế”, công lao gì… Thứ nữa, dù cố gắng đến mấy, Mục Thận cũng không đủ vốn sống, tri thức, kinh nghiệm… (vì làm nghề đánh cá) để làm những việc “quốc gia đại sự” ấy.

Những chi tiết này chỉ có trong cổ tích. Nhưng tại sao vẫn có trong sách sử, thậm chí là chính thống như “Đại Việt sử ký toàn thư”? Mong được sự lý giải của các nhà sử học. Lời “biện luận” của Ngô Sỹ Liên cũng mơ hồ, theo kiểu “đánh bùn sang ao”: “Kẻ làm tôi phạm tội giết vua cướp ngôi mà được miễn tội chết, thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua tin sùng đạo Phật”. Liệu “đạo Phật” có phải là lý do để cái “lỗi” này xảy ra?

Các cuốn sử khác như “Đại Việt sử lược”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Thiên Nam ngữ lục”… cũng chép nội dung gần giống ở trên. Xin phép đặt câu chuyện vào các góc độ sau:

1. Huyền thoại là sự thêu dệt nhờ sức tưởng tượng nhưng hạt nhân câu chuyện thường là sự thật. Nhờ cắm sâu rễ vào mảnh đất văn hóa (tôn giáo, phong tục, tư tưởng…) rồi quang hợp ánh sáng của khí quyển thời đại nên cây huyền thoại kết được trái tác phẩm “liên văn hóa” rất khó phân chất cụ thể đâu là sự thật, đâu là hư cấu. Cứ lẫn lộn vào nhau để mời gọi bạn đọc cùng phủ tiếp lên câu chuyện những ý nghĩa mới. Do vậy huyền thoại luôn bồng bềnh những màn sương khói hư thực, tạo ra sự mơ hồ đầy hấp dẫn.

“Khí quyển thời đại” rất quan trọng. Soi vào lịch sử sẽ thấy mấy nét đáng chú ý sau: Một là, từng là thầy dạy của vua Lý Nhân Tông, năm Giáp Tý (1084), đang giữ chức Thị lang Bộ binh, Lê Văn Thịnh được vua giao nhiệm vụ hòa đàm với người Tống về việc cương vực và đã hoàn thành tốt đẹp. Từ khi được phong chức Thái sư (1085) ông có đóng góp quan trọng trong việc xây dựng hình pháp, thực hiện cải cách triều chính (năm 1086 tổ chức thi tuyển vào Hàn lâm viện; năm 1089 định các chức văn võ…) nên ít nhiều đụng chạm đến quyền lợi của hoàng gia, quốc thích, quan lại.

Hai là, khi nhậm chức Thái sư cũng là dịp Hoàng Thái hậu thôi nhiếp chính để tiến hành công cuộc xây dựng, tu sửa chùa chiền tốn kém. Chắc chắn nhà Nho - Thái sư Lê Văn Thịnh phản đối. Mâu thuẫn Nho - Phật vốn âm ỉ nay mạnh mẽ hơn và có thể là đầu mối cho sự trừng phạt của triều đình với vị Thái sư tài năng, tiết tháo. Ba là, không có con trai, đang cô đơn trên đỉnh cao quyền lực, Lý Nhân Tông lại sa vào sự lo lắng việc truyền ngôi, thêm lời gièm pha nên vua nghi kỵ Thái sư… “Vụ án hồ Dâm Đàm” xảy ra khi đã hội tụ đủ điều kiện phù hợp, như một tất yếu!?

Tượng xà thần tự cắn đuôi mình trong đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh, được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2013.
Tượng xà thần tự cắn đuôi mình trong đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh, được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2013.

2. Được ghi nhận là nhà nước đầu tiên của Đại Việt có hệ thống pháp luật, nhà Lý bắt đầu tổ chức cơ quan chuyên trách về pháp luật (bộ Hình và Thẩm hình viện). Đời vua Lý Thái Tông cho san định luật lệ, chia ra nhiều môn loại rồi biên thành sách “Hình thư” (1042). Đây cũng là triều đại thể hiện sự văn minh khi coi trọng luật pháp, tổ chức thi tuyển chọn quan lại với 3 môn: thư (viết chữ), toán và hình luật (năm 1077); thể hiện tinh thần nhân đạo với người có tội. Vào các dịp lễ hội, cầu đảo hoặc sự kiện triều chính quan trọng, triều đình ban lệnh chẩn tế hoặc tha tù. Đến thời Lý Anh Tông (1136 - 1175), triều đình đặt hòm bằng đồng để tiếp nhận thư kêu oan của dân…

Theo Lê Quý Đôn trong “Nghệ văn chí” (sách “Đại Việt thông sử”), “Hình thư” nêu ra 10 tội lớn phải chết (thập ác), với: 1. Mưu phản: làm nguy xã tắc; 2. Mưu đại nghịch: làm nguy tông miếu, cung khuyết. 3. Mưu bạo nghịch: nổi loạn theo giặc… Đối chiếu với “tội” của Lê Văn Thịnh, như các sách sử ghi chép thì phạm vào tội lớn nhất. Ra “Hình luật” phải nghiêm để làm gương, nhưng lại tha cho tội lớn nhất, là vô lý.

3. Môtíp hóa thân có nhiều trong thần thoại, cổ tích, thường là người nghèo hóa vật (cây xoan, quả thị, sọ dừa, con ếch, con chim…). Chỉ là người tài năng hoặc địa vị cao mới được “hóa hổ”. Trong truyện về Khổng Minh Không kể vua Lý Thần Tông mắc bệnh lạ, lông lá mọc khắp cơ thể, cuồng loạn, gầm thét như hổ suốt ngày. Thiền sư Nguyễn Minh Không (1065-1144), đã chữa khỏi bệnh mà dân gian gọi là “hóa hổ” cho vua.

Ngày xưa hổ rất nhiều, là “chúa sơn lâm” mọi loài vật trong rừng đều sợ, lại thường bắt trộm gia súc, gia cầm, có khi hại cả người nên con người vừa sợ vừa ghét vừa thần thánh hổ. Hổ trở thành một “vật thiêng”. Ngoài những cách gọi tôn kính (ông ba mươi, ông kễnh, ông khái...), nhiều đình, chùa, miếu mạo thường đắp tượng hổ, thậm chí có miếu thờ riêng. Nhiều triều đại quy định rõ, tưởng là mâu thuẫn nhưng phù hợp với quan niệm, phong tục: ai săn được hổ, được thưởng 30 quan tiền nhưng cũng bị phạt 30 hèo vì đã làm loài hổ giận. Thế nên Thái sư hóa hổ là đúng với logic quan niệm. Đó là ánh hồi quang của môtíp “người hóa vật” từ thần thoại, cổ tích hắt về. Có thể hiểu thêm, để bất tử hóa nhân vật lịch sử nên dân gian đã bao phủ màn sương huyền thoại lên cái lõi sự thật là sự đố kỵ với tài năng (Lê Văn Thịnh).

Năm 1993 ở khu vực bên trong khuôn viên nơi từng là tư gia của Thái sư Lê Văn Thịnh người dân phát hiện một pho tượng lạ, bằng đá nguyên khối, không phải rồng, giống rắn, nhưng có chân, miệng đầy răng cắn vào thân, chân cào xé da thịt mình. Nhiều người cho rằng tượng gửi gắm những tâm sự về nỗi oan khiên mà Thái sư phải chịu.

Có hai loại ý kiến: Một là, pho tượng biểu thị sự hối hận của Vua Lý Nhân Tông nghe lời xiểm nịnh của gian thần (con vật có một bên tai bị bịt kín) gây ra nỗi oan trái cho người thầy học nên hối hận mà tự cắn xé mình. Hai là, căn cứ vào thời điểm tạc bức tượng (khoảng thế kỷ 14 đến 17), khi sự việc đã sáng tỏ phần nào, thì pho tượng biểu thị cho nỗi oan trái của Thái sư. Nhưng các lập luận trên chưa thỏa đáng, ở chỗ: Biểu trưng vua thì phải là rồng nhưng tượng không phải rồng (vì hình rắn), cũng không phải rắn (có chân). Càng không đủ căn cứ để nói biểu tượng cho Thái sư… Có lẽ chỉ nên coi đây là một “tồn nghi” để chờ các nghiên cứu tiếp theo.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).