Vô tửu bất thành lễ...

Nếu như phương Tây dựng lên hình ảnh của một thần rượu nho Dionysus, con trai của thần Zeus và công chúa Semele; thì phương Đông với đại diện Trung Quốc cũng dành một sự tôn vinh lớn cho Tửu thánh Đỗ Khang và hình tượng Lưu Linh trở thành một nhân vật điển hình khi bất cứ văn nhân nào luận bàn đôi lời về uống rượu.

1.Đối với người Việt, không có tài liệu nào nói đích xác người Việt  làm ra rượu từ bao giờ, song tôi chắc chắn một điều rằng, rượu đã có mặt từ rất sớm trong đời sống văn hóa của người Việt và được đại đa số các tầng lớp nhân dân ưa chuộng. Chẳng thế mà đi từ Bắc vào Nam có thể kể tên rất nhiều làng nghề nấu rượu, rất nhiều loại rượu mang tính chất đặc sản - đặc hữu - bản sắc của mỗi vùng miền như: rượu Bàu Đá, đế Gò Đen, rượu Kim Long, rượu Kim Sơn, rượu Bó Nặm, rượu Hồng Đào, rượu làng Vân, rượu Lộc Thủy, rượu Mẫu Sơn, rượu Phú Lễ, rượu San Lùng…

Người Việt có thể nói có những am hiểu khá kỹ về rượu, biết dùng nhiều loại men khác nhau trong công nghệ nấu rượu. Chẳng hạn dùng men lá để ủ nên rượu cần, từ men ngô để có đặc sản rượu ngô Bản Phố, dùng men sắn để nấu thành rượu sắn. Dòng rượu men gạo truyền thống cũng chia thành nhiều loại: rượu gạo, rượu nếp, rượu nếp cẩm, rượu nếp cái hoa vàng…

Rượu còn được ngâm với nhiều loại động - thực vật khác nhau để tạo nên một bức tranh đa sắc, vô cùng phong phú sinh động với muôn hình vạn trạng: rượu thuốc, rượu tắc kè, rượu bìm bịp, rượu chuối hột, rượu táo mèo, rượu trứng, rượu rắn, rượu mơ, rượu ba kích, rượu cá ngựa… Cái tình của người Việt với rượu như vừa kể sơ sơ ở trên xem ra cũng rất phù hợp với những đặc điểm tính cách dân tộc được Đào Duy Anh nêu ra từ năm 1938 trong tác phẩm Việt Nam văn hóa sử cương.

Theo đó, một trong những nét tính cách của người Việt là tương đối thích "chơi bời", tính nghệ sĩ nổi trội bởi "giàu trí nghệ thuật hơn là trí khoa học", đất nước lại có vô vàn những dịp lễ hội trải suốt trong năm… Tất cả những yếu tố trên càng "tạo điều kiện" cho rượu được sử dụng, được ưa chuộng như một yếu tố không thể thiếu.

Uống rượu là một thú ẩm thực không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Việt (Ảnh có tính minh họa)
Uống rượu là một thú ẩm thực không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Việt (Ảnh có tính minh họa)

Nhưng có một điều quan trọng cần được nhấn mạnh, đó là việc sử dụng rượu trong đời sống của người Việt đã được nâng lên thành một nghi lễ, cấp thêm cho ly rượu những giá trị tinh thần, giá trị tâm linh thiêng liêng. Những ngày giỗ, Tết, lễ hội, rượu xuất hiện với tư cách "vô tửu bất thành lễ". Khi những chén rượu trắng được rót ra cung kính đặt lên ban thờ, bên cạnh nước trắng, hương hoa, cỗ bàn…, người Việt tin rằng sự thành tâm của mình đã được bề trên chứng nhận và những sợi dây tâm linh bắt đầu được thiết lập qua những nghi lễ như thế.

Người Việt bên cạnh việc thưởng thức rượu theo sự đa dạng phong phú về chủng loại còn có những quan điểm rất riêng về việc uống rượu khi nào và uống với ai. Không phải mùa nào cũng đáng để uống rượu như một sự thưởng thức. Chẳng hạn đối với mùa hè, gần như không có một áng văn chương nào ca ngợi hay bàn tới việc uống rượu vào thời điểm này. Nhưng những mùa khác thì ắt hẳn là có, với những màu sắc khác nhau, riêng biệt cho từng mùa.

2.Với mùa xuân, chén rượu của mùa này là chén rượu chúc mừng năm mới, chúc mừng sự sinh sôi nảy nở, cây cối thì đâm chồi nảy lộc, lòng người cũng hân hoan phơi phới lạc quan. Tản Đà đã viết bài "Ngày xuân thơ rượu" nổi tiếng: "Trời đất sinh ra rượu với thơ/ Không thơ không rượu sống như thừa/ Còn thơ còn rượu còn xuân mãi/ Còn mãi xuân còn rượu với thơ".

Với mùa thu, đây là mùa thường được coi là mang lại cảm hứng nhiều hơn cả cho những tâm hồn nghệ sĩ. Một chút men rượu làm lâng lâng lòng người nhất định sẽ hòa hợp tuyệt đẹp cùng những khoảnh khắc bâng khuâng của đất trời, của gió heo may, của lá vàng ngập lối, của mặt nước long lanh với bờ xa sương khói… Nguyễn Khuyến trong chùm thơ thu ắt hẳn vì thế mà phải dành riêng một bài với nhan đề "Thu ẩm" (nghĩa là Uống rượu mùa thu) với hai câu kết nổi tiếng: "Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy/ Độ dăm ba chén đã say nhè".

Với mùa đông, chén rượu sẽ làm lòng người ấm áp hơn, góp phần chống lại cái lạnh giá khắc nghiệt của thời tiết, chén rượu trong những cuộc sum vầy mùa đông cũng khiến lòng người thấy gần nhau hơn. Một tác phẩm cổ văn Trung Hoa nổi tiếng là "U mộng ảnh" (Trương Trào) có đoạn: "Mưa mùa xuân nên đọc sách, mưa mùa hè nên đánh cờ, mưa mùa thu nên lục đồ trong hòm rương cũ ra xem, mưa mùa đông nên uống rượu".

Trong văn học Việt Nam, thi phẩm uống rượu mùa đông nổi tiếng nhất có lẽ chính là bài "Uống rượu với Tản Đà" của thi sĩ Trần Huyền Trân: "Cụ hâm rượu nữa đi thôi/ Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu/ Rồi lên ta uống với nhau/ Rót đau lòng ấy vào đau lòng này…".

Như vậy, sau việc nên uống rượu vào thời điểm nào, người Việt cũng ý thức rất sâu sắc về việc uống rượu với ai. Rượu cần phải uống với người tri âm tri kỷ, người hiểu mình và ngược lại mình cũng hiểu bạn. Chẳng thế mà khi Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến đã viết: "Rượu ngon không có bạn hiền/ Không mua không phải không tiền không mua". Người tri âm đã không còn, chén rượu nâng một mình thấy lòng lẻ loi đắng đót.

Trong một trường hợp khác, khi bĩ cực phẫn chí mà phải mượn rượu quên sầu hoặc nói lên cái chí khí hoài bão của mình, người uống rượu cũng muốn hướng tâm tình về một tri kỷ. Nói như thế để thấy việc uống rượu trong sự sẻ chia với một tha nhân là điều vô cùng quan trọng. Đó chính là trường hơp Nguyễn Vỹ với kiệt tác "Gửi Trương Tửu": "Cho nên tôi buồn không biết mấy/ Đời còn nhố nhăng ta chịu vậy/ Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa/ Bậc chí thành say mấy cũng vừa".

Các bậc danh sĩ đất Việt, những thi nhân nổi tiếng từ xưa đến nay, hầu như ít nhiều đều bàn đến rượu trong thơ, nhờ rượu mà bày tỏ tâm sự hoặc một phần cốt cách của mình. Nguyễn Trãi trong "Quốc âm thi tập" có không ít những câu về rượu, bộc lộ một tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết: "Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén/ Ngày vắng xem hoa bợ cây".

Đại thi hào Nguyễn Du cũng có nhiều câu thơ chữ Hán tuyệt hay về rượu: "Phù thế kỷ kinh tang lỗ biến/ Sàng đầu y cựu tửu doanh tôn" (Trăm năm thay đổi cuộc đời/ Chỉ mong chai rượu không vơi đầu giường), "Sinh tiền bất tận tôn trung tửu/Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi" (Sống không cạn chén trên đời/ Chết rồi xuống mộ ai người tưới cho).

Một nhân vật khác là Nguyễn Công Trứ có sở thích du sơn ngoạn thủy với bầu rượu túi thơ, đi chơi có bao giờ thiếu rượu bên mình: "Khi ca khi tửu khi cắc khi tùng/ Không Phật không Tiên không vướng tục". Và rượu không chỉ là đặc quyền của các nam nhân văn sĩ bởi bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng đã viết: "Chén rượu hương đưa say lại tỉnh/Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn".

Sang đến thể kỷ XX, danh nhân văn hóa thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có không ít những câu thơ về rượu. Khi thì rượu xuất hiện trong một sự phủ định: "Trong tù không rượu cũng không hoa" (Ngắm trăng). Khi thì rượu xuất hiện trong một sự tràn đầy khoáng đạt hào sảng mênh mang: "Non xanh nước biếc tha hồ dạo/ Rượu ngọt chè tươi mặc sức say" (Cảnh rừng Việt Bắc).

Trong những nhà thơ của phong trào Thơ Mới, Nguyễn Bính có lẽ là người đưa rượu vào thơ nhiều nhất. Trong 272 bài thơ viết trước 1945 của ông, chúng tôi thống kê được tới 51 lần chữ "rượu" xuất hiện và 45 lần chữ "say" xuất hiện. Đại đa số những lần xuất hiện của rượu trong thơ Nguyễn Bính đều gắn với những nỗi buồn của thân phận, của tình yêu, của sự trôi dạt giang hồ.

Nói như thế nghĩa là, rượu đối với Nguyễn Bính như một người bạn của sự chia sẻ: "Chị ơi Tết đến em mua rượu/ Em uống cho say đến não nùng/ Uống say cười vỡ ba gian gác/ Ném cái chung tình xuống đáy sông" (Xuân tha hương), "Sầu nghiêng mái lá mưa tong tả/ Chén ứa men lành lạnh ngón tay" (Giời mưa ở Huế)…

3. Tóm lại, đối với người Việt, rượu có thể gắn với một nghi lễ (giỗ, Tết, lễ hội), rượu có thể gắn với sự sẻ chia tâm tình của tri âm tri kỷ (Nguyễn Khuyến và Dương Khuê, Trương Tửu và Nguyễn Vỹ), rượu có thể bộc lộ một nhân sinh quan hoặc chí khí hào khí hùng khí (Nguyễn Công Trứ với "Bài ca ngất ngưởng", Nguyễn Bá Trác với "Hồ trường"), rượu có thể bộc bạch tâm sự nỗi niềm thời thế (Trần Huyền Trân), rượu có thể sẻ chia những vui buồn của kiếp người (Nguyễn Bính), rượu lại cũng có thể là sự hưởng thụ mang tính cá nhân (Tản Đà với Ngày xuân thơ rượu)… Có thể thấy trong muôn vàn các trường hợp, rượu luôn là thứ sẽ giúp được người ta thăng hoa theo một ý nghĩa nào đó…

Nhưng điều đặc biệt nhất trong những câu chuyện văn chương và rượu của người Việt mà tôi thấy được là câu chuyện uống rượu với vợ. Tri âm tri kỷ khi ấy không phải là những văn nhân nam sĩ với nhau mà người tri kỷ chính là bạn đời nâng khăn sửa túi với mình.

Ở văn xuôi, đó chính là những trang túy bút cảm động lòng người trong "Thương nhớ mười hai" của Vũ Bằng khi viết về những kỷ niệm với người vợ Nguyễn Thị Quỳ nay không còn nữa: "Bây giờ, đâu còn những cốc rượu, những đêm rút bất say sưa như thế nữa? Đâu còn những chén hạt mít vợ mời chồng nhấp men tình?...". Với thơ, đó là bài "Uống rượu với chồng" của Nguyễn Lam Điền: "Thì mình cứ rót em say/ Tựa vào hơi ấm mà bay một lần/ Đất xa tạt xuống trời gần/ Chung chiêng cả mấy mươi lần thế gian"…

Tôi tin rằng mỗi người Việt, có lẽ sẽ đều tự chọn lấy một cách uống rượu thật đẹp cho riêng mình…

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).