“Viết chờ sen lên” và cảm thức thời gian

Thời gian không hình khối, không trọng lượng, vừa vô hình lại vừa cụ thể, cụ thể đến từng phút, từng giây...Tôi thiển nghĩ cảm thức về thời gian có lẽ là cảm thức lớn nhất của thi nhân từ cổ chí kim, từ đông tới tây!

...Hôm nay tôi ngồi sinh nhật thời gian
Ký ức tìm về thớ cây, vân lá
Chợt thấy mắt em mầu quả
Mở ra năm tháng bình yên.

(Sinh Nhật)

Trong tập thơ “Viết chờ sen lên” (NXB Hội Nhà văn, 2019), tác giả Trần Nam Phong chia làm ba phần: Nơi bắt đầu; Thời gian; Mật mã không gian. Rõ ràng, tác giả rất có ý thức về những cảm nhận trong thi ca của chính bản thân mình. Thực ra, trong thời gian có không gian, trong không gian có thời gian, trong sự bắt đầu của thời gian đã hé lộ sự kết thúc khoảng thời gian đã qua cho sự bắt đầu.

Bởi vậy con người mới chia thời gian thành từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày, từng tháng, từng năm... Thời gian đúng là một vị thần không ngủ!

Đồng hồ báo thức
Điện thoại báo thức
Ai pát báo thức
Thần thời gian
Mất ngủ
Tạo mầu cỏ cho bầu trời
Tạo hương thơm cho mặt đất
Tạo vết xước cho trái tim
Tạo hồi âm cho đồng vọng
Bình minh trắng
Hoàng hôn nâu
Thế giới muôn mầu
Sao áo em lại tím...

(Thời gian)

Qua bài thơ “Thời gian” trong tập thơ ta cũng có thể cảm nhận được cảm thức về thời gian của tác giả cũng chính là cảm thức về con người, về cuộc đời, về quê hương, đất nước... Bởi thời gian gắn chặt với mọi biến cố trong cuộc đời mỗi con người, mỗi miền quê, xứ sở.

Thời gian mang đến cho ta điều gì? Vui, Buồn, Khổ đau, Hay hạnh phúc?! Ta vui mừng, ta đón đợi, ta kinh hoàng, hay ta sợ hãi...! Tôi cảm nhận nhiều điều, nhiều cung bậc, nhiều cảm xúc qua mỗi câu thơ, mỗi bài thơ trong tập thơ này, luôn gắn với cảm thức của thời gian.

Tập thơ mới của tác giả Trần Nam Phong.
Tập thơ mới của tác giả Trần Nam Phong.

“Thời gian thảng thốt, thời gian đồng vọng” như thi sỹ Hoàng Nhuận Cầm đã viết trong bài “Hồn thơ thao thiết “Viết chờ sen lên”. Thời gian trong cảm thức của người thơ Trần Nam Phong có cả bốn mùa:

...Mùa xuân không ngắn, không dài
Mùa xuân sẽ trở lại
Mái chùa là một sân ga
Trắng ngần hoa đại
Hoa của mọi loài hoa

(Xuân)

Sân chùa thành sân ga của thời gian, hoa đại thành hoa của muôn loài, cảm thức về sự huyền bí của thời gian cũng như sự huyền bí của hồn người trong tâm trạng của người thơ Trần Nam Phong chính là cảm thức của thời gian đồng vọng.

Là ai tôi đã chào đời
Là ai tôi đã khóc cười trăm năm
Buồn vui chín khúc ruột tằm
Nhẹ tênh hồn vía, đăm đăm dáng hình

(Viết chờ sen lên)

Người đời thường gắn mùa sen với mùa hạ. Mỗi loài hoa thường được gắn với một mùa. Thời gian nở hoa hay bốn mùa hoa nở, hay chính cảm thức của con người, của thi nhân vào những khoảng thời gian đẹp đẽ nhất trong cuộc đời. Tự vấn và tự hỏi ta là ai, ta đã sinh ra như thế nào, ta đã làm gì, ta buồn, vui thế nào, thân xác ta, hồn vía ta ra sao trong cõi đời này... 

Chính là cảm thức về thời gia đã qua, thời gian đang đến, thời gian hữu hạn của đời người, trong cái vô cùng vô tận của không gian và thời gian. Để từ đó ta biết phải sống ra sao cho xứng đáng trong cõi nhân gian này, điều mà không phải ai cũng cảm nhận được!

Nối máy gọi mùa thu
Nghe tiếng chim gù
Trước cửa

(Tìm thu)

Ấy là thi nhân đã cảm nhận được thời gian từ vô hình trong hữu hình. Một tiếng chim gù cũng đủ cho ta cảm thấy mùa thu về trước cửa, cảm thấy cuộc đời thật đáng yêu. Nhưng để có được sự bình yên trong một tiếng chim gù thật không dễ!

Tôi chưa gặp người thơ Trần Nam Phong bao giờ, có gặp, cũng chỉ là gặp trên Facebook, nghe nói anh làm công tác tuyên huấn của Đảng. Vì tôi yêu thơ và cũng muốn tìm những câu thơ hay theo ý mình để bổ sung khi tái bản cuốn “ Những câu thơ hay Đông-Tây-Kim-Cổ” (NXB Giáo Dục ấn hành năm 2013) nên tôi chăm đọc thơ, nhất là các nhà thơ trẻ trên Facebook, trong sách, báo, trong các tập thơ mà tôi có. Một lần tình cờ đọc bài thơ “Hoàng Diệu thôn” của Trần Nam Phong trên Facebook:

Ai về tôi gửi thôn Hoàng Diệu
Mấy cành lan mộc lúc trăng lên
Những hòn đá trắng mờ rêu xám
Mùa hạ đi qua nắng bẽ bàng...

...Ai về tôi gửi thôn Hoàng Diệu
Cái mộng kết trầm tuổi trẻ trai
Có cô em gái cài nơ tóc
Trinh tuyết đôi mươi đợi dấu hài

Thôn cổ ngàn năm đây cổ thôn
Mênh mang vũ trụ, gió càn khôn
Tam Tòa, Điện Thánh, cồn Nghiên Bút
Em nhớ thắp giùm mấy nén hương.

Hoàng Diệu thôn chính là thôn Thạch Mỹ (Đá đẹp) có tự ngàn đời, cách làng Xuyên Cẩm quê tôi (cũng có tự ngàn đời) chỉ một cánh đồng. Thuở còn học cấp ba ở xã Kỳ Giang, tôi thường đi qua thôn Thạch Mỹ, mỗi lần qua Tam Tòa, Điện Thánh (được coi là linh thiêng), tôi cúi đầu bái lạy. Ở thôn Thạch Mỹ có một hòn núi nhỏ phía sau làng, rất nhiều đá chồng lên nhau. Có hôm đi học về muộn, mệt quá, tôi ngả lưng trên một tảng đá rồi ngủ quên lúc nào không hay. Bài thơ làm tôi xúc động. 

Thì ra Thạch Mỹ (Thôn Hoàng Diệu) là nơi sinh ra người thơ Trần Nam Phong. Và từ đó tôi thường đọc thơ Trần Nam Phong trên Facebook. Mới đây tôi được Trần Nam Phong tặng tập thơ mới xuất bản “Viết chờ sen lên”. Thú thật, hằng tháng tôi được nhiều người làm thơ tặng, có khi cả chục tập thơ. Vì yêu thơ nên tôi đọc hết. Chỉ một số ít tập thơ mà tôi thích mới đọc kỹ và viết bài cho các báo.

Cái mà nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm nhận xét về tập thơ “Viết chờ sen lên”: “Ấn tượng của tôi ở phần này là trạng thái nửa thực, nửa ảo trong thi pháp của tác giả” chính là điều mà tôi thích nhất trong tập thơ này. Tôi thiển nghĩ, nửa thực, nửa ảo cũng là một trong những phẩm chất cơ bản của thơ ca.

Thực ra vũ trụ của chúng ta suy cho cùng vẫn là trạng thái nửa thực, nửa ảo trong nhận thức của con người. Tôi đọc “Bát nhã tâm kinh” của Osho, người được coi là “Phật sống” của thế kỷ hai mươi, rất thích khi ông viết “Không nước, không trăng, tay tôi rỗng không, tâm tôi rỗng không...”. Điều mà tiền nhân chúng ta nói về bản chất của thơ “Ý tại ngôn ngoại” phải chăng cũng nằm trong dư ba của ý tưởng, thi pháp “Nửa thực, nửa ảo này” tôi thiển nghĩ vậy.

Em về ngủ giữa giấc mơ
Để anh cay đắng dại khờ đưa nôi

(Khúc hạ  2)

Lá đa thả vạn bè sao
Bao nhiêu hạt gạo nôn nao ngân hà

(khúc hạ 4)

Phải chi phận mỏng cánh chuồn
Tuổi xuân giữ lại, nỗi buồn mang theo

(Với ni cô)

Trời có nói gì đâu
Mà bốn mùa hoa trái
Đất có nói gì đâu
Mà dòng sông chảy mãi

(Viết ở chùa Long Sơn)

Sống nhờ khờ dại chiêm bao
Đời người một giấc nôn nao thôi mà

(Gửi người đi xa)

Thời gian lấy nhớ làm quên
Lấy mưa làm nắng qua miền hanh hao
Ta về cày ải chiêm bao
Cấy lên cát trắng, gió lào tuổi thơ

(Gửi người đi xa)

Trong thơ không chỉ THẤY, mà còn phải CẢM THẤY, CẢM NHẬN. Cao hơn cảm nhận theo tôi chính là CẢM THỨC. Khi người viết nhìn nhận một sự vật nào đó bằng chính cảm giác của mình thì sự thật mà anh nhìn thấy nằm trong cảm xúc, đúng hơn, không phải chỉ có trong đầu anh mà còn trong tim anh. Và cao hơn nữa là trong tâm thức của chính anh. Điều này tạo nên dư ba trong ý tưởng, trong cảm xúc, tạo nên sự đồng cảm của thơ với người đọc.

Lạy cây, lạy cỏ
Lạy ngõ, lạy vườn
Lạy nếp nhà mưa nắng
Lạy đêm trắng hoa cau
Lạy nỗi đau nguồn cội
Lạy lời nguyên khói hương

(Khúc hát ngày về đất tổ)

Cụ thể đến thế, mà cũng vô hình đến thế. Ấy là khi người thơ đã từ cái cụ thể mà hóa thân vào cõi vô cùng của tổ tiên, nguồn cội trong cảm thức vô tận của thời gian ...

        Viết tại nhà vườn Sóc Sơn

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).