Về miền biên viễn

"Nơi ngỡ hấp dẫn tôi bằng ngọn núi Bà Đen/ Cô tu sĩ làm thơ chỉ đường cho Giải phóng/ Tòa thánh thất vàng son, thâm u và bí ẩn/ Hay rừng cao su trùng điệp tới chân trời…". Những câu thơ của nhà thơ Bằng Việt như vẫn còn quanh quẩn đâu đây trong tâm trí khi chúng tôi tìm về mảnh đất Tây Ninh trong những ngày tháng sáu.

Trời trong, nắng nhẹ. Thời tiết như đang chiều lòng người để cho cuộc "hành quân" của chúng tôi trên miền đất biên viễn này thêm nhiều ý nghĩa. Từ cửa khẩu Xa Mát đến rừng Chàng Riệc, lên núi Bà Đen, ghé Ma Thiên Lãnh, qua hồ Dầu Tiếng... đâu đâu cũng là những câu chuyện, những huyền tích, những trận đánh và cả những cuộc tiếp đón thân tình khiến chúng tôi - những người mới đặt chân đến đây lần đầu phải lắng lòng mình lại. Dường như ở Tây Ninh, đất và người đã hòa nhau thành một, gió bạt nắng nhiều đã trui rèn nên những con người nghĩa tình, bất khuất, trung kiên.

Trên chiến khu xưa

Chúng tôi đến Chàng Riệc khi trời đã đứng bóng nhưng những tán cây rừng che chở bên trên, để bước chân đi vẫn không hề mệt mỏi. Là gắm, vên vên, dầu nước, sao đen, sến mủ, giáng hương, bằng lăng, trai, gõ, căm xe... và đặc biệt lá trung quân mọc rải rác khắp rừng. Mái nhà lợp lá trung quân không bắt lửa, che mưa, che nắng, đã cùng chiến sĩ ta đi qua cuộc kháng chiến trường kỳ. Tất cả, tạo nên khu rừng với biết bao tên gọi: "Rừng biên giới", "Rừng chiến khu", "Rừng anh hùng", "Chiến khu R"... Và cả miền rừng huyền ảo và uy nghiêm ấy bỗng phút chốc trở nên sôi động và ấm áp hơn nhờ sự xuất hiện của các cựu chiến binh từng chiến đấu ở nơi này. Mái đầu đã bạc trắng, đôi tay đã run run, đôi chân không còn vững nhưng ngọn lửa trong tim vẫn rực cháy rạng ngời.

img_20240612_174954_1.jpg -0
Cột mốc núi Bà Đen với sương mù bao phủ.

Chúng tôi theo chân các cựu chiến binh đi qua khu lưu niệm, nhà truyền thống, trưng bày... cho những dòng hồi ức từ họ cứ chầm chậm chảy sang qua từng câu chuyện kể. Như cô Năm Bào, một thành viên trong đoàn cựu chiến binh đến từ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kể cho chúng tôi nghe về quãng thời gian 4 năm (1964 - 1968) ở nơi này. Cô bảo, thời gian mình ở nơi này còn ít ỏi, không thể so sánh với nhiều đồng đội khác, nhưng chừng đó cũng đủ để trải qua những cung bậc cảm xúc của đời người. Vui có, buồn có, khổ có và cả những lần quặn thắt trái tim khi nhìn thấy đồng đội ngã xuống. Giọng cô trầm lại, để trong tiếng gió, tiếng chim là tiếng súng xa mờ, là tiếng quân đi rầm rập và cả tiếng cười của tuổi xuân hiến mình cho đất nước.

Trong nhà trưng bày ở Khu di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, chúng tôi được nhìn lại những kỷ vật của các đồng chí lãnh đạo và chiến sĩ của một thời khói lửa như: chiếc xe đạp, đôi dép của đồng chí Nguyễn Văn Linh; kính lúp, máy cát sét, đĩa nhựa của đồng chí Phạm Văn Đảng; thư của Hồ Chủ Tịch gửi luật sư Nguyễn Hữu Thọ; dao, mác, súng ngựa trời do các nông dân miền Đông và Tây Nam bộ tự chế;... Và đặc biệt là sa bàn về diễn biến chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Junction City của quân Mỹ vào căn cứ Bắc Tây Ninh. Chúng tôi đi, nghe và thấy, cảm tưởng như mình cũng được trở về một thời chiến đấu sục sôi.

Rời khỏi Khu di tích, chúng tôi ghé cửa khẩu Chàng Riệc, một cửa khẩu chính trao đổi giao thương hàng hóa, bên kia là cửa khẩu Dar của nước bạn Campuchia. Với chiều dài đường biên giới lên tới 240km, không quá khi nói rằng Tây Ninh là một trong những tỉnh có nhiều cửa khẩu nhất cả nước với ba cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài, Xa Mát, Tân Nam; hai cửa khẩu chính là Kà Tum, Chàng Riệc và hơn mười cửa khẩu phụ khác. Đường biên giới dài, tình hình an ninh biên giới phức tạp đặt những người lính mang quân hàm xanh phải giữ tinh thần tập trung cao độ, kiên quyết đấu tranh trước các loại tội phạm. Có những đêm không ngủ, có những lần trèo đèo lội suối gian nan nhưng những người lính ở Đồn biên phòng Chàng Riệc vẫn giữ nụ cười trên môi, ân cần thăm hỏi. Chính điều đó khiến những người mới đến đây lần đầu như chúng tôi cũng cảm thấy thân quen.

Tháng sáu, cánh rừng trở nên xanh hơn nhờ những cơn mưa đầu mùa tưới tắm và cả màu xanh áo lính. Chúng tôi đứng đây, trong từng hơi thở dường như có quá khứ và hiện tại đan xen, nhen nhóm bên trong lòng biết ơn vô hạn. Biết ơn cánh rừng đã che chở cho quân và dân giữa bom rơi lửa đạn. Biết ơn dòng máu nóng đổ xuống đã hóa thành bất tử, thấm vào đất này cho cây cối thêm tươi. Biết ơn những người lính dẫu trong thời bình cũng ngày đêm canh giữ bình yên cho đất trời Tổ quốc.

Giữa vùng đất thánh

Gọi là "vùng đất thánh" bởi ở nơi này không chỉ có ngọn núi Bà Đen linh thiêng, mà còn là nơi khởi phát của đạo Cao Đài, một tôn giáo được hình thành trên cơ sở dung nạp giáo lý của nhiều tôn giáo lớn như Kitô giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Hồi giáo và cả Ấn Độ giáo. Đã nhắc tới đạo Cao Đài chắc chắn không thể bỏ qua Nội ô Tòa Thánh Tây Ninh hay còn gọi là Thánh địa Cao Đài, tọa lạc tại phường Long Hoa, thị xã Hòa Thành. Thánh địa Cao Đài nằm trên diện tích khoảng 1km2 được bao bọc xung quanh bởi hàng rào và 12 Cổng tam quan. Bên trong có Sân Đại Đồng xã, Bá Huê viên, Giáo Tông đường, Hộ Pháp đường, Khách Đình, Nhà thuyền Bát Nhã... và nổi bật nhất là Đền Thánh (Tòa Thánh Tây Ninh) - một công trình kiến trúc được xây dựng hoàn toàn bằng đôi tay và sức lực của con người mà không cần một bản vẽ hay một thứ máy móc nào hỗ trợ. 

núi bà ðen.jpg -1
Núi Bà Đen.

Chúng tôi đứng trên sân Đại Đồng xã để có thể chiêm ngưỡng toàn bộ vẻ đẹp của Đền Thánh trong ngày thứ hai ở lại Tây Ninh. Trước mặt chúng tôi, dưới ánh nắng ban mai, những loài hoa trong Bá Huê viên đang lung linh tỏa sắc. Xa xa, vài tín đồ Cao Đài trong trang phục áo dài trắng đang tiến vào Đền Thánh.

Những gót chân thiên di lại tiếp tục lên đường đến núi Bà Đen, giống như vài người bạn của tôi từng nói: "Đến Tây Ninh mà chưa ghé núi Bà Đen thì chưa gọi là đã đến Tây Ninh". Núi Bà Đen với chiều cao 986m, là ngọn núi cao nhất ở Nam bộ được mệnh danh là "Đệ nhất thiên sơn". Dẫu đây là lần đầu tiên nhiều người trong chúng tôi mới đặt chân đến nhưng những sự tích ly kỳ nhuốm màu huyền thoại xung quanh ngọn núi này thì đã được nghe nhiều. 

Đó là sự tích về ba lần báo mộng của bà Đen - nàng Lý Thị Thiên Hương, con của quan trấn nhậm Trảng Bàng Lý Thiện và bà Đặng Ngọc Phụng. Lần thứ nhất là báo mộng cho sư Trí Tân kể về cái chết của mình trong hình dạng một người phụ nữ đen đúa. Vì vậy nhà sư gọi là nàng Đen, người đời sau gọi là bà Đen để tỏ lòng tôn kính. Lần thứ hai là chúa Nguyễn Ánh khi bị quân Tây Sơn truy đuổi, nghe đồn về sự linh thiêng của bà Đen đã khẩn cầu trợ giúp. Bà đã hiện về báo mộng, chỉ đường cho chúa Nguyễn Ánh thoát thân. Lần thứ ba là nhập xác hiển linh trò chuyện với Tả quân Lê Văn Duyệt, để rồi sau đó được ông thay mặt vua sắc phong "Linh Sơn Thánh Mẫu", tạc tượng để thờ ở núi Một (nay là núi Bà Đen).

Đó là Động Ba Cô, nằm ở khu vực Chùa Bà. Truyền thuyết kể rằng vào đầu thế kỉ 20, có ba người con gái đồng trinh từ miền Tây đến nơi này tu hành. Hằng ngày, họ xuống núi giúp dân nghèo chữa bệnh, rồi tối về gõ mõ tụng kinh. Sau khi qua đời, người dân lập miếu thờ ở nơi ba cô tu hành, tạo nên một nơi linh thiêng và đầy huyền bí. Với rất nhiều người dân trong vùng, lên Động Ba Cô cầu tình duyên và sức khỏe luôn cảm thấy linh nghiệm một cách lạ kỳ.

Nhưng ngọn núi Bà Đen đâu chỉ nổi danh nhờ độ cao hay những huyền tích, mà còn là những chiến tích anh hùng. Đó là trận chiến chiếm Căn cứ truyền tin của địch trên núi Bà Đen của Tiểu đoàn Trinh sát 47 diễn ra từ ngày 6/12/1974. Bất chấp sự ác liệt, thương vong, ta và địch quyết giằng co từng mỏm đá, tấc đất, gốc cây trên núi. Và sau 31 ngày đêm anh dũng chiến đấu, căn cứ truyền tin của địch bị san phẳng, ngọn núi Bà Đen được giải phóng cùng ngày với giải phóng Phước Long.

Trong làn sương mờ ảo trên đỉnh núi tựa như những ngọn khói đang bay về trời, chúng tôi cầu cho Tổ quốc, cho gia đình, không quên cầu cho 181 anh linh chiến sĩ Tiểu đoàn Trinh sát 47 còn nằm lại trên ngọn núi này. Chúng tôi tin, dẫu thời gian đã trôi qua 50 năm, rồi 100 năm hay nhiều hơn nữa thì thế hệ trẻ sẽ luôn ghi nhớ công ơn của những con người trung hiếu đã hy sinh thân mình cho đất nước bình yên.

Quốc Việt

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).