Vấn vương hương cốm làng Vòng

Có một ngày thu đã xa lắc xa lơ, bầu trời hôm ấy như trút cơn thịnh nộ xuống làng Vòng. Mưa trắng đồng và nước ngập mênh mông. Nhà cửa, cây cối, những cây lúa chìm trong biển nước. Mùa màng mất trắng, những người dân làng Vòng đành đi mót những cành lúa non về tuốt lấy hạt rang lên và giã ra ăn. Bỗng ngạc nhiên vô cùng vì vị ngọt thơm, dẻo quánh của lúa non. Và thế là những hạt cốm đầu tiên của làng Vòng ra đời từ trận mưa lũ lịch sử đó.

"Cốm làng Vòng em gánh vòng qua phố nhỏ
Hương cốm thơm vấn vít cả chiều thu.
Lá sen xanh gói nồng nàn hương cốm.
Như vòng tay anh vẫn mãi đợi chờ
".

Có một ngày thu đã xa lắc xa lơ, bầu trời hôm ấy như trút cơn thịnh nộ xuống làng Vòng. Mưa trắng đồng và nước ngập mênh mông. Nhà cửa, cây cối, những cây lúa chìm trong biển nước. Mùa màng mất trắng, những người dân làng Vòng đành đi mót những cành lúa non về tuốt lấy hạt rang lên và giã ra ăn. Bỗng ngạc nhiên vô cùng vì vị ngọt thơm, dẻo quánh của lúa non. Và thế là những hạt cốm đầu tiên của làng Vòng ra đời từ trận mưa lũ lịch sử đó.

06858be5-44d5-4055-a8be-b741c465a3fb.jpg -0
Khâu lựa chọn nguyên liệu để làm cốm rất quan trọng.

Đến nay thì hầu hết người dân Việt Nam đều biết đến tiếng của cốm làng Vòng bởi màu cốm xanh mát mắt như màu xanh của ngọc. Hạt cốm dẻo, cho vào miệng có vị ngọt, ngậy như sữa và mùi thơm của hương cốm sực lên mũi và dường như lan tỏa khắp cả không gian. Nếu đã nếm thử một lần thì sẽ không bao giờ có thể quên được.

Cốm làng Vòng đã trở thành một thức quà mang đậm hồn quê, dân dã bình dị nhưng lại vẫn có vẻ sang trọng, thanh nhã chốn thị thành. Đó chính là sự độc đáo hiếm có của món quà quê này.

Bắt đầu từ dịp rằm Trung thu là vào vụ cốm. Cả làng Vòng lại nhộn nhịp tiếng cối thập thình cứ như cùng hòa tấu một bản nhạc Trung thu vậy.

Để làm ra được những hạt cốm trứ danh là hàng loạt các công đoạn của những nghệ nhân làng Vòng.

Đầu tiên là khâu chọn những bông lúa nếp non, thơm ngon đủ độ chín, bấm phải ra giọt sữa bên trong lớp vỏ trấu màu xanh. Ngắt lúa về phải bắt tay vào việc chế hóa hạt thóc ra thành cốm trong vòng 24h. Lúa phải là giống lúa Nếp cái hoa vàng. Tiếp đó là tuốt lấy thóc, sàng bỏ rơm và những hạt thóc lép rồi giã thóc sàng trấu. Đãi qua nước rồi cho vào chảo rang. Bếp lò để rang cốm phải đắp xỉ than nhưng không đốt than mà dùng củi, chảo rang phải là chảo gang đúc. Cốm được rang trong lửa nhỏ, đảo liên tục sao cho nóng đều. Khoảng 30 phút thì xem thử bằng cách đặt 5 hạt lên miếng gỗ, dùng ngón tay miết mạnh, nếu thấy hạt "2 quằn 3 róc" tức là 2 hạt chưa róc vỏ nhưng quằn lại, còn 3 hạt róc vỏ nhưng không bị quằn là được. Thóc rang xong người làm cốm phải chờ cho nguội rồi mới cho từng mẻ, mỗi mẻ khoảng vài cân vào cối giã. Thóc được giã đều tay và vừa tay, có trấu thì phải xúc ra xảy vỏ trấu rồi giã tiếp. Khoảng năm lần giã thì sẽ phân loại cốm: cốm rón, cốm non và cốm gốc sau đó mới giã riêng từng loại hai lần nữa là hoàn tất.

Cốm thường có ba loại dùng để làm các món khác nhau.

Cốm đầu mùa có hạt mỏng, mềm, dẻo thích hợp cho ăn chay hoặc chấm với chuối trứng cuốc.

Cốm giữa mùa thường dùng làm chả cốm

Cốm cuối mùa hạt to, dầy ăn hơi cứng dùng để nấu chè, xào hoặc làm xôi cốm.

gioithieucomlangvong.jpg -0

Trong quá trình làm cốm, mỗi mẻ cốm cũng phân chia thành nhiều loại cốm chất lượng khác nhau. Cốm lá me là những hạt mầm mỏng dính như lá me, bé tí bay ra trong khi sàng cốm sau đợt giã cuối. Loại này ít và hiếm. Loại ngon thứ nhì là những hạt nếp non sau khi giã vón vào nhau gọi là cốm rót. Cốm còn lại trong cối giã là loại cốm Mộc, loại này thường hay được bán ở chợ.

Cốm mang đi bán sẽ được gói trong hai lớp lá. Hạt cốm được gói bằng lá "Ráy" giữ cho cốm không bị khô và để được lâu. Lớp lá "Sen" dùng để bọc ngoài như để bao bọc cốm bằng thứ hương thơm ngan ngát, tinh khiết của sen. Sau cùng là dùng hai sợi lạt mềm làm từ thân lúa đã được tuốt hết hạt, có khi còn vương lại vài đôi hạt lép, buộc vuông góc với nhau làm cho gói cốm vừa chắc chắn và tạo nên một hình ảnh mộc mạc, chân quê.

Trong ký ức tuổi thơ của tôi, cứ mỗi độ thu về, khi những ngọn gió heo may se se lạnh tràn về trên phố là những gánh cốm xanh mướt lại xuất hiện rất nhiều ở đầu chợ, cuối chợ, trên từng con phố và theo chân các bà các chị hàng rong tới từng ngóc ngách của Hà Nội. Mẹ tôi lại mua về những gói cốm thơm nức, tháo chiếc lạt bằng sợi rơm ra, cắt chiếc lá bọc cốm đúng bằng hình chiếc đĩa rồi kính cẩn dâng lên ban thờ tổ tiên những hạt cốm đầu mùa.

Vào ngày giỗ của bà nội tôi, trên ban thờ bao giờ cũng có hai chục bánh cốm của cô tôi mua ở phố Hàng Than. Một đĩa cốm tươi, một đĩa chuối trứng cuốc và một đĩa cốm xào trên có rắc những sợi dừa nạo trắng tinh trông thật hấp dẫn. Đó chính là món mà tụi trẻ con chúng tôi mong chờ nhất sau khi ăn cỗ xong sẽ được tráng miệng bằng món đó. Còn người lớn trong nhà sẽ ngồi nhâm nhi tách trà nóng, kể những câu chuyện về bà nội tôi, rồi nhón tay lấy một nhúm cốm nhỏ để ăn cùng với chuối. Cũng có năm mẹ tôi đổi món cốm xào thành chè cốm, món này cũng rất tuyệt. Những hạt cốm non được nấu chín tới vẫn dẻo quánh và ngọt lịm nữa làm cho tụi trẻ con chúng tôi ăn hết cả bát rồi mà vẫn thòm thèm chỉ muốn xin bát nữa.

Nhưng ăn cốm cũng như ăn hương ăn hoa. Mẹ tôi thường múc chè vào những chiếc bát nhỏ xíu. Tôi ước giá mình được ăn ba bát thì mới đã cơn thèm. Ngày đó tôi cứ nghĩ sao mẹ tôi tiết kiệm thế.

Giờ thì tôi mới hiểu, người Hà Nội không ăn cốm mà là thưởng thức cốm.

Biết bao mùa cốm đã đi qua cùng heo may, mẹ tôi đã không còn nữa. Tôi lại thay mẹ dâng lên ban thờ tổ tiên những hạt cốm đầu mùa. Vào ngày giỗ bà nội, tôi vẫn dâng lên đĩa cốm mộc với những quả chuối trứng cuốc. Một đĩa cốm xào có rắc những sợi dừa trắng tinh. Vẫn những bát chè cốm xinh xinh và trong mâm cỗ còn có thêm cả món xôi cốm xanh mát mắt, món chả cốm vàng rộm, thơm lừng nữa.

Nhìn những gánh hàng cốm trên phố, lòng tôi lại rung rưng nhớ mẹ.

Tôi tin rằng, dù cuộc sống có bộn bề gấp gáp bao nhiêu, dù có du nhập biết bao món ngon từ các nước thì những món ngon từ cốm cũng vẫn trường tồn cùng thời gian. Bởi cốm là tinh hoa của trời đất, là một nét đẹp thanh tao của ẩm thực Việt mà mỗi người con, nhất là những người con xa xứ sẽ nhớ khôn nguôi khi nhớ về đất mẹ.

Nguyễn Bích Hợp

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).