Đọc "Giọt nước mắt người lính", truyện ngắn của Nguyễn Đăng An, NXB Hội Nhà văn, 2019

Vẫn tin vào nước mắt

Mở rộng biên độ phản ánh đời sống xã hội là nét ưu trội trong tập truyện ngắn thứ ba "Giọt nước mắt người lính" của Nguyễn Đăng An. Mười bảy truyện trong tập đều là những hình tượng nghệ thuật sinh động về đời sống và con người thời đại đầy những biến đổi quyết liệt, phức tạp và bất ngờ. 

Là người trải nghiệm sống và trải nghiệm văn hóa dày dặn, tác giả đã dẫn dắt người đọc vào những cảnh ngộ, số phận, hoàn cảnh hết sức điển hình: Chiến tranh, hòa bình, đời sống của người Việt ở nước ngoài, cuộc đấu tranh của lực lượng Công an nhân dân diệt trừ cái xấu, cái ác bảo vệ an ninh Tổ quốc và bình yên đời sống, những bi kịch đời người...

Là nhà văn của lực lượng Công an nhưng tác giả không hề bó buộc ngòi bút vào cái gọi là đề tài. Đọc Nguyễn Đăng An thấy tác giả mở lòng, hướng ngòi bút vào những bể dâu của đời người. Mỗi truyện như một lát cắt đời sống trong tính phức tạp, phong phú của nó với chứa chất những xung đột, mâu thuẫn gay gắt và quyết liệt khi xã hội bước vào thời hậu chiến, vào cơ chế thị trường, khi thế giới đã trở nên phẳng hơn bao giờ hết.

Nhà văn Nguyễn Đăng An.
Nhà văn Nguyễn Đăng An.

Hai mảng hiện thực lớn tác giả quan tâm: Chiến tranh và những hệ lụy của nó, sự tha hóa và biến dạng nhân cách của con người thời đại dưới áp lực của mưu sinh và tiền tài, danh vọng. Cũng viết về chiến tranh, nhưng ngòi bút Nguyễn Đăng An có cách riêng của mình để đi vào lòng người như "Ba chàng trai làng Nhãn".

Tốt nghiệp phổ thông (hệ 10 năm) Minh - Trí - Thao đều có giấy báo đi học nước ngoài. Nhưng Minh và Thao đã viết đơn bằng máu, tình nguyện xung phong đi bộ đội. Cả hai vun vén cho Trí đi Liên-Xô học Toán (vì ba năm liền anh được giải môn Toán toàn miền Bắc).

Minh đã hy sinh ở chiến trường, Thao trở về sau chiến tranh - một thương binh, sống cuộc đời bình thường. Chỉ có Trí là thành đạt sau khi tốt nghiệp ở nước ngoài về. Anh không phụ bạc bạn bè và người thân, cái tâm mách bảo anh làm nhiều việc tình nghĩa, giúp bạn bè và đồng loại. Anh đã cùng Thao vào tận miền Nam, tìm người phế binh Việt Nam Cộng hòa để giúp đỡ (đó là người trong một trận huyết chiến đánh xáp la cà, chính Thao đã chúc mũi lê của mình xuống, chỉ đâm vào chân khiến anh ta bị thương).

Trí đã suy nghĩ nung nấu: "Cuộc chiến tranh đi qua đã hơn 30 năm rồi, khoảng thời gian nửa đời người đã đủ để xóa đi lòng hận thù của hai phía". Đó chính là tinh thần hòa giải, hòa hợp dân tộc mà chúng ta đang kiên trì thực hiện trên tinh thần đoàn kết, nhân văn cao cả của tình đồng bào cùng con Rồng cháu Tiên, chung dòng máu Lạc Hồng.

Chiến tranh muôn thuở là hủy diệt, đau thương. Dẫu nó qua rồi nhưng hậu họa vẫn khôn lường, rình rập lấy đi tính mạng và hạnh phúc nhỏ bé của mỗi người dân lương thiện chỉ luôn khao khát hòa bình. Di họa chiến tranh mà người phụ nữ có tên Dạ Lan ("Người đàn bà ở bến đợi xe thành Rôm") phải gánh trên đôi vai nhỏ bé của mình thật là khủng khiếp: Người chồng đầu đã chết vì chất độc da cam (dioxin), hai đứa con - những nạn nhân của chiến tranh - thì sống trong hình hài kỳ quái, đau thương vô bờ bến một kiếp làm người.

Đó là sức mạnh tố cáo chiến tranh bằng hình tượng nghệ thuật. Tất nhiên, Nguyễn Đăng An không phải là người duy nhất hay đầu tiên viết về nạn nhân dioxin. Nhưng ở đây là cách tiếp cận sự thật. Hóa ra con người dù có chạy trốn đến chân trời góc bể, dù có cạn cả nước mắt thì nỗi đau dioxin vẫn không buông tha. Nếu chúng ta không quên lãng và thờ ơ thì không thể quay lưng trước nỗi đau của hơn 3 triệu người Việt Nam đang từng ngày gánh chịu nỗi đau da cam. Nói theo cách của nhà thơ Nga C. Ximônôp: "Nỗi đau này không của riêng ai!".

Nhưng dẫu sao thì nỗi đau lớn này nhiều người biết, nhiều người chia sẻ. Có những nỗi đau âm thầm, dai dẳng, giày vò lương tâm của người lính tên Thư ("Giọt nước mắt người lính"), khi trở về sau chiến tranh thì Đào, vợ anh, đã có con với chính bố đẻ của mình.

Còn gì trớ trêu hơn, bất hạnh hơn. Trong chiến trận, Thư cũng như những người lính khác đã nén đau thương thành căm thù để chiến đấu và chiến thắng. Nhưng trong hòa bình và đời thường thì phải hành xử thế nào với bố mình và vợ mình trước tình huống "con của vợ là em trai của mình" (?!). Mô-tip cốt truyện và chủ đề này độc giả đã bắt gặp trong truyện ngắn "Mùi thuốc súng" của Nguyễn Văn Thọ và tiểu thuyết "Cánh đồng lưu lạc" của Hoàng Đình Quang.

Nhưng vì sao lại có sự trớ trêu đó? Có nhiều nguyên nhân: Mẹ Thư mất khi anh mười tuổi, bố anh gà trống nuôi con, trước khi vào bộ đội, Thư cưới Đào nhưng tình yêu của họ không đơm hoa kết trái vì Thư còn quá thơ ngây chuyện vợ chồng, việc báo tử Thư là một nhầm lẫn ngẫu nhiên trong chiến tranh,... Ở đây ngẫu nhiên và tất nhiên khó rạch ròi. Tôi thấy tác giả khéo léo để độc giả phán xét công/ tội, đúng/sai với từng nhân vật.

Cuối cùng không ai khác, chính Thư phải quyết định giải thoát cho mỗi người. Anh vào miền Nam sống với ba má nuôi trong chiến tranh đã cưu mang mình. Anh cũng bị nhiễm dioxin. Trước lúc mất, anh viết hai lá thư cho bố và vợ (kèm theo đơn ly hôn để Đào dễ dàng ứng xử). Đọc dòng cuối thư anh viết cho vợ, độc giả khó kìm được nước mắt: "Chúc dì khỏe, may mắn và hạnh phúc".

Tình yêu của con người trong chiến tranh phải trải qua lửa đỏ và nước lạnh. Ít người được may mắn và nhận cái kết có hậu như chị Tươi ("Tân hôn muộn") khi được người yêu đầu đời là Minh đã không quản gian lao đi tìm bằng được cố nhân vì chị Tươi bị thương nặng (có nguy cơ không thể làm vợ, làm mẹ) nên đã chạy trốn tình yêu.

Tác phẩm mới ra mắt bạn đọc của nhà văn Nguyễn Đăng An.
Tác phẩm mới ra mắt bạn đọc của nhà văn Nguyễn Đăng An.

Một mảng truyện khác trong tập, ngòi bút tác giả hướng tới tái hiện "những chuyện không muốn viết". Đó là thói cuồng danh khiến cho con người lầm lạc, đánh mất nhân tâm với bạn bè như nhân vật Cường ("Gã háo danh") đã bày mưu tính kế chiếm đoạt sở hữu trí tuệ (Luận án Tiến sỹ) của người bạn thân là Hùng. Thậm tệ hơn anh ta còn nhờ bọn xấu ngoài xã hội âm mưu sát hại Hùng.

Kết cục là Cường bị tuyên án 15 năm tù, nhưng do cải tạo tốt và có sự bảo lãnh của Hùng nên được ra tù sớm. Hơn thế, Hùng còn giang tay cưu mang, giúp đỡ Cường khi nhận anh ta về làm việc ở cơ quan mình. Nhưng cái thói xấu này dẫu sao cũng là giữa người dưng nước lã với nhau.

Đồng tiền đã tha hóa, làm méo mó nhân cách của những đứa con với bậc sinh thành mình ("Căn nhà triệu đô"). Hai đứa con trai của ông Tuệ (một vị Tướng về hưu) đã không muốn bố mình kết hôn với bà Mai vì chúng sợ sau đó nếu có chuyện gì thì của nả phải phân chia. Sau hơn hai mươi năm vợ mất, ông Tuệ thấy đã đến lúc cần có cuộc sống cho riêng mình lúc về già, nhưng hai đứa con trai phản ứng quyết liệt. Thậm chí ông phải nói: "Các anh về đi". Vậy là cha con từ nhau vì chuyện tiền bạc.

Ngay từ khi cầm bút viết văn, tôi đã nhận thấy Nguyễn Đăng An có sở trường về truyện ngắn. Tập truyện đầu tay "Thiên nga lạc bầy" (1990) đã báo hiệu thiên hướng viết truyện ngắn của anh. Đến tập truyện thứ hai "Người đàn bà nghịch cát" (2013), độc giả đã nhớ được tên tuổi một cây bút truyện ngắn có triển vọng.

"Giọt nước mắt người lính" (2019), đã phát lộ đúng sở trường của cây bút có duyên với một thể loại rất khó viết. Đến nay, đã có thể nói về những nét biệt sắc của truyện ngắn Nguyễn Đăng An: nghiêng về kiểu truyện truyền thống - có cốt truyện tiêu biểu, tính cách nhân vật rõ nét, tình huống truyện nổi trội, các chi tiết điển hình, đoạn kết gây ấn tượng ("Tân hôn muộn", "Ba chàng trai làng Nhãn", "Mẹ xóm Đoài", "Bi kịch đời người", "Thiên nga lạc bầy", "Người đàn bà ở bến đợi xe thành Rôm", "Giọt nước mắt người lính",...).

Những truyện viết về quá khứ thường được tác giả ưu ái hơn, ngòi bút duy tình phát huy tối đa những cảm xúc thẩm mỹ tốt đẹp, khơi gợi những tình cảm cao quý của con người trong chiến tranh, trong thời bao cấp khốn khó nhưng thanh sạch tâm hồn. Những truyện viết về sự tuế toái, éo le, cắc cớ của thời buổi kim tiền, nói công bằng, Nguyễn Đăng An không ghi đậm dấu ấn bằng các cây bút khác như Sương Nguyệt Minh, Tạ Duy Anh, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ,...

Trong "Giọt nước mắt người lính", độc giả thấy Nguyễn Đăng An đã có những tìm tòi hình thức thể loại bằng cách viết các kiểu truyện ngắn đan xen: Ngụ ngôn hiện đại ("Cặp ve màu ánh kim"), giả tưởng ("Lời thề chân lý"), luận đề ("Cú đấm muộn"), trinh thám ("Thiên nga lạc bầy")...

Viết truyện ngắn, Nguyễn Đăng An không chú mục vào các khoảnh khắc hay chốc lát (moment), mà chú tâm tới tái hiện những đoạn đời quan trọng của mỗi nhân vật. Vì thế, mỗi truyện ngắn đều ẩn chứa mầm mống của tiểu thuyết. Âu cũng là cái tạng văn của tác giả.

Hà Nội, tháng 6-2020

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.