(Đọc “Văn khoa chân dung ký” của Hữu Đạt, NXB Hội Nhà Văn, 2021)

Văn khoa chân dung kí - Một cuốn sách độc đáo về các trí thức Việt Nam

Thật ra, cuốn sách chỉ viết chân dung một số nhà khoa học nhà giáo của khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhưng có thể nói rằng: Riêng về ngành Ngữ văn, thì đó là các bậc giáo sư, các trí thức lớn của đất nước. Các Giáo sư Hoàng Xuân Nhị, Nguyễn Hàm Dương, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Gia Khánh, Hoàng Thị Châu, Nguyễn Lai, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Hoàng Trọng Phiến, Hoàng Như Mai, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Đức Dân, Bùi Duy Tân, Lê Quang Thiêm, Đặng Thị Hạnh...

Được ngòi bút tinh tế, tài hoa của một học trò xuất sắc của khoa Ngữ Văn, có nhiều năm được học các thầy, lại có nhiều năm được công tác với các thầy, làm đủ các việc từ tổ trưởng công đoàn, thư kí bộ môn, trợ lí chính trị, Chủ tịch công đoàn…  viết chân dung bằng tấm lòng yêu quý, ngưỡng mộ, nên các thầy đã hiện lên vô cùng sống động.

Khác hẳn thể loại chân dung văn học viết về các nhà văn, người viết viết về cuộc đời và về văn phẩm của họ. Những chi tiết có thể đọc từ sách “Nhà văn Việt Nam hiện đại”, hoặc sử dụng gián tiếp qua tự bạch, qua các bài báo, bình luận… Người viết có thể tung tẩy ngòi bút. Với nhà văn Hữu Đạt, việc viết “chân dung” các thầy các cô,  vừa có cái thuận là do được học, được gần gũi, được nghe tâm tư, kể cả những chuyện riêng tư… nhưng cái khó nhất là làm sao các chân dung phải sinh động, phải đúng, phải nói được “thần thái”, phong cách của mỗi người mà vẫn phải đảm bảo được sự “tôn sư trọng đạo”. Điều đó thật không hề dễ dàng!

Một đồng nghiệp nói thẳng: “Ông viết như thế không sợ cụ Đệ mắng à? Chuyên “bơi thuyền cùng thư kí” sao dám đưa vào đấy?” (trang 178).

Đồng nghiệp khác là GS.TS. Trần Nho Thìn đọc xong thì lo lắng hỏi: “Ông viết như thế liệu cụ Tân có mắng không? Cụ khó tính lắm đấy”. (trang 250).

Bìa cuốn sách “Văn khoa chân dung ký” của nhà văn Hữu Đạt.
Bìa cuốn sách “Văn khoa chân dung ký” của nhà văn Hữu Đạt.

Điều đó làm cho tác giả không khỏi băn khoăn lo lắng. Mặc dù anh viết với tất cả niềm yêu kính, tự hào về các thầy của mình, bằng cái tâm hoàn toàn trong sáng. Nhưng chuyện văn chương, có thể sai một li, đi một dặm. Không ai dám chắc. Nhân vật văn học giáo sư Nguyên của Hữu Đạt trong “Phía sau giảng đường” đã từng bị một số người đọc không kĩ coi là tác giả bôi bác GS. Nguyễn Tài Cẩn là một ví dụ nhỡn tiền!

Thật may là không có chuyện gì xảy ra với “Văn khoa chân dung kí”.

Tác giả Hữu Đạt thành công trong cuốn sách này trước hết là những quan sát, nhìn nhận tinh tế của một nhà văn tài hoa. Giáo sư Hoàng Xuân Nhị thì anh chọn chi tiết cắt trọc đầu ngồi lì 6 tháng học tiếng Nga. Rồi bắt đầu dịch sách và viết cuốn “Lịch sử văn học Nga – Xô viết”, cuốn sách gối đầu giường của sinh viên. Và chi tiết GS. Nhị 50 lần gặp Chủ tịch Trường Chinh để quyết đi Pháp. Tác giả viết “GS Hoàng Xuân Nhị là tấm gương chói ngời về tinh thần lao động và ý chí quyết tâm” thật chính xác!

Với Giáo sư Nguyễn Hàm Dương, nhà văn chọn thời điểm lịch sử “lái súng cỡ bự” để nói về “một cuộc đời cách mạng thật hiển hách” của ông.

Mỗi vị giáo sư khả kính, căn cứ vào những dư luận đồn đại các khóa trước, căn cứ vào sự chiêm nghiệm của bản thân mình khi trực tiếp tiếp xúc với tư cách là  sinh viên - học trò, về sau là đồng nghiệp, tác giả Hữu Đạt đã chọn ra một nét nổi trội để khắc họa chân dung chỉ với năm sáu từ hay một vế đối. Đấy quả là một sự tinh tế và tài hoa.

Đây là ví dụ:  

“Đỗ Đức Hiểu thích ném bã trầu/ Nguyễn Văn Tu vặn thừng nói sách”.

“Hoàng Như Mai kể chuyện Vũ Bằng/ Lê Đình Kỵ giảng Kiều búng gió”. 

“Chữ thiên hạ ba bồ, người ung dung lấy một/ Văn thế gian năm ngả, ai giỏi toán nhất khoa?” (về GS. Đinh Gia Khánh và GS. Nguyễn Đức Dân).

“Râu như Tu, cù như Cẩn. (Về GS. Nguyễn Văn Tu và GS. TS. Nguyễn Tài Cẩn)

“Gió đổi chiều, Phan tiên sinh viết nhạc/ Mưa thay nguồn, Hà tiền bối làm thơ”.

(Về GS. Phan Cự Đệ và GS. Hà Minh Đức).

“Ngữ Văn một thuở đề huề/ Ai qua lí luận lại về Ngữ ngôn?” (GS. Nguyễn Lai).

“Bùi Duy Tân đổ nước mộng giường/ Hoàng Trọng Phiến vén màn tế độ”.

“Lê Đức Niệm trồng chuối giữa khoa/ Nguyễn Kim Đính thà buồn hơn khổ”.

“Đinh Gia Khánh một thời nghiêng ngả mũ/ Đặng, Lê, Hoàng… Ai đã lọt mắt xanh” (Về  ba nhà giáo nữ Lê Hồng Sâm, Đặng Thị Hạnh, Hoàng Thị Châu).

“Trần như Hinh, Tình như Thu, Nhu như Bùi” (Về ba đồng nghiệp cùng thế hệ là Trần Hinh, Lý Hoài Thu, Bùi Việt Thắng).

Theo lời tâm sự của Hữu Đạt, phần lớn các câu đối được rút làm tít đề của cuốn sách này vốn là những câu giai thoại được chính anh cùng một số đồng nghiệp như: PGS.TS. Nguyễn Bá Thành, nhà văn Bùi Việt Thắng, PGS.TS. Đoàn Đức Phương “tổng kết” lại trong thời gian nghỉ trưa của một kỳ chấm thi đại học (hiện bản tổng kết viết tay vẫn được Đoàn Đức Phương lưu giữ). 

Khi triển khai viết “Văn khoa chân dung kí”, Hữu Đạt phải tính toán loại bớt những câu đối thiếu tính tích cực, hoặc gia cố lại, hoặc viết mới nhằm đảm bảo  tính thống nhất về hình tượng của tác phẩm. Ví dụ, các câu: “Bùi Duy Tân đổ nước mộng giường/ Hoàng Trọng Phiến vén màn tế độ”, “Chữ thiên hạ ba bồ, người ung dung lấy một/ Văn thế gian năm ngả ai giỏi toán nhất khoa”, “Gió đổi chiều Phan tiến sinh viết nhạc/ Mưa thay nguồn Hà tiền bối làm thơ”… là do Hữu Đạt tự nghĩ ra sau khi nghiền ngẫm các sự kiện liên quan đến các nhân vật của mình. 

Riêng các bài “lảy Kiều”, “vịnh Kiều”, Hữu Đạt cũng phải công phu chọn lọc từ trong “Truyện Kiều” xem câu thơ nào có thể ứng với hoặc na ná với số phận, cuộc đời của các nhân vật để vận vào cho hợp, đồng thời để đáp ứng được lòng mong mỏi của người bạn tâm giao là Nguyễn Bá Thành “Nếu cuối mỗi chân dung mà có vài câu lảy Kiều hay vịnh Kiểu thì đọc sẽ càng thích”.

Với tất cả niềm kính trọng, yêu mến, tự hào, tác giả đã viết về các bậc đại trí thức của khoa Ngữ văn, các nhà khoa học xã hội hàng đầu của đất nước. Họ vừa là  nhà khoa học hàng đầu, vừa là nhà giáo mẫu mực và không ít người là nghệ sĩ lãng tử, “nghệ sĩ hơn cả nghệ sĩ”. Nhiều GS, như GS. Lê Đình Kỵ “Nhìn ở góc độ nào, ông vẫn là người tài hoa tột bậc, sắc sảo trong cách nhìn, cách nghĩ và cách cảm về văn chương” (tr. 146-147).

Qua các chân dung, tác giả đã cho thấy các thầy, cô là những người bình thường, nhưng có những yếu tố phi thường. Chính những điều phi thường và bình thường đó càng cho thấy tầm vóc lớn lao của những trí thức trong hai cuộc kháng chiến gian khổ của đất nước.

Để có được những bức chân dung sống động phải kể đến ý thức của một nhà nghiên cứu, nhà văn. Nếu không có tác giả Hữu Đạt là một học trò - sinh viên, rồi thầy giáo trẻ, nhà văn – đồng nghiệp của các thầy, rồi PGS.TS. Nhà văn luôn kính trọng, trăn trở với Khoa, với Trường, đặc biệt là với những người thầy mà anh ngưỡng mộ, yêu kính thì sẽ không có Văn khoa chân dung kí. Điều đó là chắc chắn. Vì như GS. Đinh Xuân Lâm, một trong “tứ trụ” của khoa Lịch sử lừng danh của Đại học Tổng hợp đã chân thành nói: “Khoa Sử chúng tớ cũng oanh liệt lắm, chẳng kém bên khoa Văn các anh đâu. Chỉ tiếc là bên này, không có nhà văn tâm huyết như anh để ghi lại” (Văn khoa chân dung kí, trang 364).

Vì lẽ gì mà “Có đến quá nửa khoa đã bị tác giả bỏ bùa mê…” như PGS.TS. nguyên Chủ nhiệm khoa Hà Văn Đức đã nói. Và vì lẽ gì mà một số thầy đọc đi đọc lại không biết chán? Chẳng hạn như GS. Bùi Duy Tân qua lời cháu nội, TS Bùi Duy Dương: “Những ngày ông em ốm liệt giường, cuốn “Văn khoa chân dung kí” là cuốn sách gối đầu giường. Ngày nào ông em cũng đọc. Em hỏi, ông bảo ông đọc mãi vẫn không thấy chán” (trang 251). Còn Giáo sư Lê Đức Niệm – người hồn nhiên nhất thế giới thì nói: “Tớ đọc lần này là lần thứ hai mươi sáu rồi đấy. Thế mà vẫn chưa thấy chán” (tr. 305). 

Nhà giáo ưu tú Lê Hồng Sâm, người được tác giả đề cập trong sách, thì rất vui: “cô cười nắc nẻ: “Đạt ơi, mỗi lần đọc sách của Đạt, tôi lại thấy từng người trong khoa hiện ra trước mắt mình. Ông Dân này, ông Tu này, Thầy Nhị này… Đạt quan sát kĩ quá. Lúc đọc đến đoạn Đạt tả mấy cái lông mũi của ông Tu thì cô không nhịn được cười. Cả thầy Nhị nữa… vui thật đấy” (tr. 323). Nhà văn Nguyễn Văn Lưu (Chu Giang) thì đọc đi đọc lại chi tiết tả anh bạn cùng lớp ngồi nhặt cơm trên rá, và khen: “Phải nói là độc đáo thật. Không nghĩ thầy lại có chi tiết ấy” (tr. 323).

Có thể nói ngoài tài năng quan sát, kể chuyện, tác giả đã vận dụng kiểu tiểu thuyết cố điển chương hồi. Rồi khi thì khoáng hoạt, khi thì nghiêm túc, không hiếm khi hài hước bông đùa. Tất cả những điều đó kết hợp với nhau, hài hòa biến hóa. Khi trịnh trọng, nghiêm trang, lúc buồn thương man mác,  khi ngậm ngùi uất ức, lúc lại hài hước với những chi tiết lạ lung: Đổ nước mộng giường, làm công tác tư tưởng trong màn với người đẹp, trồng chuối trong khoa, kí giấy bán Khoa lấy tiền chia cho cán bộ…

Giọng kể có duyên, nhưng cũng biết tiết chế để gây hồi hộp kiểu người xưa. Muốn biết chuyện thế nào, xem hồi sau sẽ rõ. Rồi thì chuyện ấy chỉ có hai người biết. nay lại nói về… Thi thoảng lại kèm những câu thơ vịnh như là tóm tắt sự nghiệp, chặng đường. Những câu thơ vần vè ấy cũng làm tăng thêm gia vị cho món chân dung.

Vũ Nho

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).