Hướng tới kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025)

Văn học chống Mỹ - một giá trị văn hóa Việt Nam

Là tấm gương soi của thời đại, văn học Việt Nam thời chống Mỹ đã góp phần làm rạng rỡ một tượng đài Việt Nam anh hùng, chính nghĩa, tiên phong trong cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa đế quốc, trở thành biểu tượng của lòng yêu nước trong bầu trời văn hóa nhân loại.

Xứng đáng với tư cách, tư thế của “binh chủng nghệ thuật”

Hòa vào không khí cả nước lên đường đuổi giặc: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu), hàng trăm nhà văn, nhà thơ xung phong vào chiến trường vừa cầm súng vừa cầm bút cống hiến trọn vẹn tuổi xuân và tài năng văn chương cho Tổ quốc.

Được coi là một “binh chủng nghệ thuật”, văn học đã làm tốt nhiệm vụ kêu gọi, cổ vũ động viên toàn dân đứng lên đuổi giặc, đã kiến tạo những hình tượng sử thi trong vắt một lý tưởng cách mạng, như những vầng hào quang tỏa chiếu ánh sáng lý tưởng hướng bạn đọc đi về phía cái cao cả, cái anh hùng.

image001.jpg -0
Nhà thơ Dương Thị Xuân Quý để lại con thơ ngoài Bắc xung phong vào Nam chiến đấu.

Âm hưởng vang dội của tiếng súng Đồng Khởi đầu những năm 60 của thế kỷ XX là những “cú hích” để văn học phát triển mạnh mẽ. Hàng loạt tiểu thuyết ra đời: "Một truyện chép ở bệnh viện" (1959), "Trước giờ nổ súng" (1960), "Làng tề" (1962), "Một chặng đường" (1962), "Trên mảnh đất này" (1962), "Phá vây" (1963), "Đất lửa" (1963)...

Trong 3 năm 1960, 1961, 1962, theo thống kê của Giáo sư Phan Cự Đệ (trong công trình “Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại - 2000”), có hơn 20 cuốn tiểu thuyết xuất bản, mỗi cuốn phát hành trên dưới một vạn bản. Nhưng có lẽ nguyên nhân quan trọng hơn cả, là vị thế dân tộc lúc này đang ở tầm cao của vũ đài chính trị thế giới. Sau khi thắng Pháp làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”, cả thế giới nhìn Việt Nam kính phục, ngưỡng mộ.

Xâm lược miền Nam, đế quốc Mỹ lộ rõ âm mưu của kẻ cướp biến nước ta thành một “thuộc địa kiểu mới”. “Không khí sử thi” trong văn học bừng lên mạnh mẽ. Những tiểu thuyết sử thi nguyên khối, tinh chất, không pha tạp ra đời như là một sự tất yếu: "Vào lửa" (1966), "Hòn Đất" (1966), "Cửa sông" (1967), "Gia đình má Bảy" (1968), "Ở xã Trung Nghĩa" (1969), "Vùng trời" (1971), "Dấu chân người lính" (1972), "Thôn ven đường" (1973), "Mẫn và tôi" (1972)...

Nhà nghiên cứu Niculin (người Nga) nhận xét về cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắn "Mảnh trăng cuối rừng" là “đã bao bọc nhân vật trong bầu không khí vô trùng”. Nhưng có lẽ nhận xét ấy đúng với cả các nhân vật tiểu thuyết sử thi tiêu biểu của thời kỳ này: Chị Sứ (Hòn Đất), Lữ (Dấu chân người lính), Mẫn (Mẫn và tôi), Hảo (Vùng trời)...

Từ cảm hứng sử thi đến diễn ngôn sử thi

Cảm hứng sử thi hào sảng đã tạo ra những nhân vật đậm chất lý tưởng. "Dấu chân người lính" (Nguyễn Minh Châu) có thể coi là một thành tựu mới của văn học Việt Nam hiện đại thời ấy. Ngoài sự xây dựng thành công những điển hình anh hùng (Kinh, Lữ), tiểu thuyết còn thể hiện tinh thần của thời đại, quyết tâm của cả dân tộc một lòng đánh giặc: “Lớp cha trước lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu quân hành” (Tố Hữu).

image003.jpg -1
"Tổng tập nhà văn Quân đội" đoạt giải A Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VII, năm 2024.

Diễn ngôn luôn chịu sự quy định, chi phối của “quyền lực” thời đại. Ở bối cảnh xã hội hừng hực tinh thần yêu nước: “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông” (Chế Lan Viên –" Sao chiến thắng"); thì lý tưởng lên đường ra trận cùng “tất cả vì tiền tuyến” là khát vọng, cũng là hành động cụ thể nhất của mọi công dân yêu nước. Con người sống vì cái chung hơn vì cái riêng. Cái tôi càng như nhỏ bé đi trước cái ta cộng đồng. Là lĩnh vực riêng tư nhất nhưng tình yêu trai gái hòa vào tình yêu đất nước, tình yêu nhỏ nằm trong tình yêu lớn.

Thật dễ hiểu các cặp đôi như Lữ-Hiền (Dấu chân người lính); Quỳnh-Hảo (Vùng trời); Thiêm-Mẫn (Mẫn và tôi); Ngạn-Quyên (Hòn Đất); Tâm-Thành (Dưới đám mây màu cánh vạc)... đều là những nhân vật của sử thi, từ suy nghĩ đến “yêu đương” cũng rất “sử thi”. Bức thư của người vợ, dù đã có tuổi (vợ Chính ủy Kinh) gửi cho chồng cũng có thể tìm thấy ở bất kỳ lá thư nào của những người vợ trẻ gửi cho chồng nơi tiền tuyến: “Ở nhà mọi người đều bình yên và đang tích cực sản xuất để góp phần cùng tiền tuyến chống Mỹ cứu nước” (Dấu chân người lính).

Những người vợ ấy đã xác định rõ không chỉ gửi thư cho chồng mà còn cho cả đồng chí của chồng. Tất cả, những người nơi hậu phương, nơi tiền tuyến, tiền tuyến-hậu phương đều coi nhau như trong một nhà, tất cả vì mục tiêu đuổi giặc. Cũng rất logic, khi đồng chí coi nhau như anh em trong nhà, thì anh em cha con ruột thịt lại coi nhau như đồng chí. Thậm chí khi yêu nhau người ta cũng coi nhau như đồng chí. Một câu thơ của Tố Hữu đã nói rất đúng cái tình thời đó là tình đồng chí: “Rồi hai đứa hôn nhau hai người đồng chí”.

Rất dễ hiểu khi hai cha con Kinh-Lữ gặp nhau ngoài mặt trận, thì người bố không nói bằng giọng người bố mà nói với giọng cấp trên (chính ủy): “Chốc nữa anh hãy báo cáo với tôi công việc anh đã làm từ ngày đi bộ đội” (Dấu chân người lính). Ngày ấy không chỉ có những suy nghĩ sáng ngời lấp lánh một tinh thần xả thân vì Tổ quốc của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc… mà có hàng triệu, hàng triệu những trái tim “trong như ngọc sáng ngời” như thế. Đấy là sự thật - một nguyên nhân cơ bản của chiến thắng!

Không gian sử thi hào hùng

Văn học chống Mỹ đã miêu tả sinh động mâu thuẫn cơ bản của thời đại là xung đột chính nghĩa và phi nghĩa: “Chúng muốn đốt ta thành tro bụi/ Ta hóa vàng nhân phẩm, lương tâm/ Chúng muốn ta bán mình ô nhục/ Ta làm sen thơm ngát giữa đầm” (Tố Hữu). Sinh động hóa hình tượng con đường lịch sử mà dân tộc đã lựa chọn, cụ thể là con “đường vui”, là “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, văn học góp phần làm bừng sáng lý tưởng thời đại: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”… Một phương diện cơ bản làm nên đặc trưng không gian sử thi trong văn học 1945-1975 là hình tượng con đường - biểu trưng cụ thể cho đời sống tinh thần của cả dân tộc với sức mạnh, bản lĩnh, ý chí, niềm tin trong thời đánh giặc.

Phải sống trong không khí đậm chất lý tưởng của thời ấy mới thấy một thực tế là “ra trận” như một ngày hội lớn: “Xóm dưới làng trên, con gái con trai/ Xôi nắm cơm đùm, ríu rít theo nhau/ Súng nhỏ súng to chiến trường chật chội/ Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu” (“Đường ra mặt trận”- Chính Hữu). Những câu thơ tái hiện một không gian cả nước lên đường ra tiền tuyến đã khẳng định chân lý, khi có giặc xâm lăng cả dân tộc Việt Nam thật giàu có lòng yêu nước, vững mạnh về niềm tin, kiên định về lý tưởng, đoàn kết thành một khối thống nhất để tạo nên sức mạnh vô địch.

Với quan niệm “Tất cả cho Tổ quốc quyết sinh”, con người thời đó tìm niềm vui, nguồn vui ở trong những trận đánh giặc. Đấy không chỉ là tâm trạng của nhân vật chị Út Tịch: “Đánh Tây sướng bằng tiên chớ cực gì” (Người mẹ cầm súng); hay của Thiêm trong tiểu thuyết của Phan Tứ: “Bỗng dưng tôi bắt gặp một bông hoa vui đang nở ngập ngừng trong tôi, tỏa hương... Tôi nhận ra rồi. Nó là niềm vui được đánh giặc” (Mẫn và tôi); còn là tâm trạng chung của hàng vạn, hàng triệu con người ở thời đó.

Khẳng định một giá trị văn hóa Việt Nam

Đồng hành cùng lịch sử, góp phần làm nên lịch sử, văn học thời chống Mỹ làm sáng tỏ thêm nguyên lý về cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện; chứng minh một công lý của niềm tin, của tình yêu tự do, tự quyết, sẽ luôn chiến thắng. Cũng là sự khẳng định chân lý lịch sử - một dân tộc giàu lòng tự trọng, yêu tự do, hòa bình, luôn có một nền văn học yêu nước chống xâm lăng.

Giá trị văn hóa cao nhất của văn học chống Mỹ là đã khẳng định cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta cực kỳ có văn hóa ở phương diện bảo vệ con người, bảo vệ lẽ phải, công lý và chính nghĩa. Hẳn nhiên, ra đời trong hoàn cảnh đạn bom, lấy mục đích chính là tuyên truyền cổ vũ nên không tránh khỏi tính chất sơ lược, công thức, minh họa. Đấy là đặc điểm chứ không phải hạn chế.

Đóng vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, ở bất cứ thời nào, quốc gia nào, văn hóa (trong đó văn học là thành tố cơ bản) cũng là nguồn lực của sự phát triển. Văn học thời chống Mỹ đã lưu giữ, trao truyền, lan tỏa tài sản văn hóa vô giá của dân tộc là cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại, để hôm nay, lấy đó làm điểm tựa, con cháu Lạc Hồng đang đưa đất nước cất cánh bay vào kỷ nguyên mới.

Đại tá, PGS.TS Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).