Văn hóa từ thiện xưa và nay

Theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, “từ thiện” là sự kết hợp giữa “từ” nghĩa là thương yêu (“nhân từ” là thương yêu người) và “thiện” nghĩa là tốt lành. “Từ thiện”có nghĩa là làm việc tốt từ lòng yêu thương. Ngay nội hàm khái niệm đã cho thấy “từ thiện” là việc làm xuất phát từ cái tâm, tự nguyện, không bắt buộc.

Ngày nay người ta thường dùng các khái niệm khác đi kèm làm rõ nghĩa thêm như “thiện nguyện”, “tâm nguyện”, tức làm việc hoàn toàn xuất phát từ “tâm ý”, không có sự tác động ép buộc từ bên ngoài.

Hầu hết các tôn giáo lớn đều dùng ý cơ bản của khái niệm này, câu chữ có thể khác nhưng gặp nhau về quan niệm chung. Kitô giáo gọi là “bác ái” (tức lòng yêu thương rộng khắp mọi người). Chúa Giê Su dạy: “Ngươi hãy yêu người gần gũi như chính mình” và “Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!”. Do Thái giáo coi việc từ thiện là việc phải làm. 

Khái niệm “công bình” (Tzedakah) chỉ những việc giúp người đúng đắn và hợp lý. Ai cũng tự nguyện đóng góp tiền bạc, thời gian và nguồn lực (cả vật chất và tinh thần) để giúp những người nghèo, coi đó là những việc “đáng làm” nhất. Luật Torah yêu cầu 10% thu nhập của một người Do Thái (không kể giàu nghèo) phải được dành cho “việc công bình”. 

Hồi giáo có khái niệm “Zakat” (từ thiện) yêu cầu mỗi tín đồ tặng ít nhất 2,5% phần thu nhập/ năm của mình cho người cơ nhỡ. Phật giáo có khái niệm “bố thí” (“bố” nghĩa là phát ra khắp nơi; “thí” là giúp, là cho). Phật giáo nguyên thủy coi bố thí đối trọng với dục vọng, ích kỷ, tham lam. Theo Đại thừa, bố thí là lòng từ bi dẫn dắt chúng sinh đến giác ngộ.

Phật dạy: Cứu mạng chúng sinh và thực hành bố thí!
Phật dạy: Cứu mạng chúng sinh và thực hành bố thí! 

Ngày nay hầu hết mọi nghiên cứu hiểu “từ thiện” là những hành động giúp đỡ, chia sẻ với người có hoàn cảnh khó khăn xuất phát từ tấm lòng nhân ái. Văn hóa từ thiện ở bất cứ đâu cũng nhấn vào “cách cho quý hơn của cho” (cũng là một ngạn ngữ của người Việt). Người ta thường kể lại câu chuyện của nhà văn L. Tônxtôi để nhắc nhở nhau khi làm “từ thiện”. Thuở Tônxtôi lên 5 tuổi, cha của ông (là một quý tộc) thường yêu cầu con mình cầm những đồng bạc lẻ bằng cả hai tay để đưa cho người ăn mày già. 

Người ta cũng hay nhắc tới các “tấm gương” từ thiện lớn trên thế giới như là cách kêu gọi, cổ vũ nhau. Đó là tỷ phú Buffett cùng với Bill Gates lập ra quỹ “The Giving Pledge” kêu gọi những cá nhân giàu có quyên góp hầu hết tài sản vào tổ chức từ thiện. Riêng Buffett đã quyên góp được 25,5 tỷ USD. Quỹ Bill & Melinda Gates đã tài trợ hàng tỷ USD để phát triển các loại thuốc chống lại HIV, sốt rét, bại liệt và các bệnh khác…

Sống ở mảnh đất nhiều giặc giã, bão tố, nắng lắm mưa nhiều nên người Việt phải cô kết với nhau để tồn tại. Phật giáo như nhánh rễ cây từ Ấn Độ bắt sang mảnh đất Việt, “đất lành chim đậu”, phù hợp với thung thổ giàu tình thương người nên cây Phật giáo lớn nhanh rồi trở thành một đại thụ văn hóa. 

Văn hóa bản địa “liên văn hóa” với văn hóa Phật giáo tạo ra những triết lý giàu có tình người: “Thương người như thể thương thân”; “Lá lành đùm lá rách”; “Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”; “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”; “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”; “Thấy ai đói rách thì thương/ Rét thường cho mặc, đói thường cho ăn”... 

Thế nên thật dễ hiểu mỗi khi gặp tai ương, cả cộng đồng Việt lại dấy lên phong trào giúp đỡ tương thân tương ái. Đó là sự kế thừa, phát triển các giá trị văn hóa tinh thần lên một tầm cao mới. 

Năm 2020, cơn lũ lụt lịch sử tràn vào miền Trung, cả nước ngóng về khúc ruột cùng đau. “Rằng trong cơn hoạn nạn mới hiểu tận lòng nhau”. Người lớn có tiền giúp tiền, trẻ em giúp giấy vở, bộ đội, công an dựng lại nhà... Cả thế giới ngưỡng mộ khâm phục Việt Nam. Có báo nước ngoài nói phải học Việt Nam cách làm “từ thiện”...

Phật dạy: Bố thí để bớt tham, sân, si!
Phật dạy: Bố thí để bớt tham, sân, si!

Ngày nay thế giới kêu gọi hướng đến “từ thiện phát triển”tức hướng đến lâu dài, bền vững hơn là tự phát. Dĩ nhiên khi cần kíp thì tự phát rất quý! Như chúng ta thường nói “cho cần câu hơn là cho con cá”. 

Kinh nghiệm của thế giới là cố gắng không trao tiền mặt mà dưới hình thức các khoản vay cùng cam kết “giải ngân” đúng mục đích, cùng các quy định pháp lý về trách nhiệm sử dụng của người nhận. Vì trao tiền mặt nếu không có các điều kiện đi kèm sẽ dễ dẫn đến việc sử dụng không đúng mục đích (ví như có trường hợp từ thiện bằng tiền mặt, vừa được trao xong, người nhận liền mang tiền đi mua rượu uống!!!). 

Hơn nữa việc nhận tiền mặt hỗ trợ, không đúng lúc, không đúng đối tượng có thể sẽ triệt tiêu ý chí khát vọng vươn lên của người được từ thiện. 

Thời cách mạng 4.0 là thời của vi điện tử, của kết nối vạn vật, của người máy...con người đứng trước cơ hội được thụ hưởng những văn minh mới mẻ nhưng cũng phải đối mặt với những thử thách ghê gớm: Nạn thất nghiệp, ô nhiễm môi sinh, dịch bệnh... Trước sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng lớn, con người càng phải cần đến nhau hơn, để đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ, san sẻ. 

Chưa kể, đứng trước sự can thiệp lạnh lùng của máy móc, công nghệ, của văn minh phi truyền thống, con người phải đối mặt với trạng thái stress, sự vô cảm, chai lỳ cảm xúc... dễ phát sinh những hành động khó kiểm soát. Đấy cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đạo đức suy thoái nghiêm trọng, và sẽ ngày thêm nghiêm trọng hơn nếu không có sự chung tay ngăn chặn của toàn xã hội. Nhiều cộng đồng đang tìm đến triết lý cứu độ chúng sinh, từ bi hỷ xả của Phật giáo như một liều thuốc tinh thần góp phần chữa trị những căn bệnh này.

“Tứ diệu đế” và thuyết “Karma” (Nghiệp) rất đề cao hành động từ thiện và chủ nghĩa cộng đồng, tư tưởng bình đẳng. Về bản chất, Phật giáo hướng con người về hạnh phúc, và chỉ có thể đạt được hạnh phúc bằng sự giải thoát, kể cả giải thoát vật chất và giải thoát trong tâm trí. 

Thời 4.0 là thời của vật chất, của những sản phẩm văn minh hiện đại. Nếu không làm chủ, không chế ngự được lòng tham, con người dễ trở thành nô lệ của vật chất. Nếu không vượt thoát lên những nhu cầu vụn vặt của cuộc sống để đạt tới sự hiểu biết, con người dễ bị chi phối bởi những cơn bão thông tin. Mà thiếu hiểu biết, như Phật dạy, sẽ là nguồn gốc sinh ra mọi tội lỗi. Thế nên nhà bác học vĩ đại Anxtanh rất đề cao đạo Phật, là có sự gặp gỡ này.

Theo Phật pháp, “bố thí” có 3 loại: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí.

Tài thí là bố thí về vật chất, gồm có bố thí nội tài và ngoại tài. Ngoại tài là những tài sản của cải vật chất ngoài thân như tiền bạc, thực phẩm, các vật dụng, phương tiện cần thiết trong đời sống… Nội tài là tài sản trong thân như mắt, tai, mũi, lưỡi, máu, các cơ quan bộ phận của cơ thể, kể cả sự sống thân mạng. Như chúng ta tham gia chương trình hiến máu nhân đạo tức là đang làm một việc phúc đức là từ thiện nội tài.

Pháp thí là đem lời hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy quí báu của đức Phật để chỉ bày, khuyên bảo người khác. Bỏ dữ theo lành, cải tà quy chính cũng là pháp thí. Pháp thí có giá trị lớn lao hơn cả tài thí. Vì tài thí chỉ giúp người khác bớt túng thiếu về vật chất trong một thời gian, hay nhiều nhất là cứu giúp một đời người. 

Hiểu theo Pháp thí thì những nhà khoa học nghiên cứu góp phần tạo ra sự phát triển của khoa học kỹ thuật để nâng cao đời sống con người, xã hội hòa bình và phát triển... là những nhà từ thiện đáng trọng. Các thầy cô giáo yêu nghề, yêu người cả đời đem tâm sức dạy dỗ học sinh hướng họ đi theo con đường tốt đẹp cũng là những nhà từ thiện...!!! 

Trong những ngày Đại dịch COVID này những nhà khoa học nghiên cứu vaccine trị bệnh chính là những nhà Pháp thí lớn! Hành động của những bác sĩ, y tá, hộ lý, những anh bộ đội, công an dũng cảm quên mình cứu người cũng là những việc làm Pháp thí thật đáng kính! 

Vô úy thí là làm cho người khác không sợ, hết sợ. Từ thiện bằng tấm lòng không để người nhận sợ hãi hay ghét bỏ mà họ cảm thấy như được thấu hiểu, thấu cảm, sẻ chia như người trong nhà. Giúp người không chỉ dừng lại ở vật chất mà còn phải nghĩ đến mục tiêu tinh thần: Tình yêu thương, sự đoàn kết, đạo đức, giác ngộ.

Khái niệm “bố thí” của Phật giáo đáp ứng khá đầy đủ các khía cạnh nhân văn, hiện đại của hoạt động từ thiện đang được thế giới hưởng ứng đông đảo!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).