(Nhân Hội nghị Văn hóa toàn quốc)

Văn hóa: Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược

Khi chưa đủ "Văn hóa", chưa hiểu "Văn minh", mập mờ về "Văn hiến", sao có thể có "Lối sống" hay? Không có "Lối sống" hay, bảo sao lại không "Suy thoái về đạo đức"? Sao lại không dễ "Tự diễn biến", tha hóa - suy đồi? Sao lại không nhũng nhiễu? Sao lại không "Trên nóng dưới lạnh"? Sao lại không "Hành là chính" v.v...

Trên thế giới, có tới hàng trăm định nghĩa về Văn hóa. "Từ điển tiếng Việt" 1992 ghi: "Văn hóa (tổng thể) là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; Văn minh là trình độ phát triển đạt đến một mức nhất định của xã hội loài người (khi đã) có nền văn hóa vật chất và tinh thần với những đặc trưng riêng" (Thực ra, chỉ cần nói, "Văn minh là biểu hiện cụ thể của trình độ Văn hóa và chưa thể đồng hạng với Văn hóa". Vì, khi chưa có "Văn hóa" đáng nói, chưa thể có "Văn minh" đáng kể. Cũng từ điển ấy ghi: "Văn hiến là truyền thống Văn hóa lâu đời và tốt đẹp".

Trong ba thứ "Văn" ấy, "Văn hiến" là to nhất. Người cao ngạo nhất cũng chỉ dám tự nhận mình là "Người có văn hóa", là "Người văn minh" chứ không bao giờ dám nhận mình là "Người có văn hiến". "Văn hiến" chỉ dành cho cả dân tộc và phải là cho dân tộc nào có bề dày cùng chất lượng Văn hóa - Văn minh đủ để thành truyền thống tốt đẹp.

nguyen-trai-cong-than-thoi-hau-le.jpg -0
Chân dung danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi (1380 - 1442).

Giản dị và cụ thể hơn, Nguyễn Tuân bảo: "Văn hóa là cái người ta học và còn nhớ được (sau khi đã quên bớt), Văn minh là cái người ta thấy và dùng hằng ngày (cho khỏi mông muội), Văn hiến thì phải dùng xẻng đào lên mới thấy".

Trần Quốc Vượng thì "chiết tự": "Văn là Văn hóa, hiến là hiền tài". Do vậy, nước nào có nhiều Văn hóa do các bậc hiền tài (là chính - vì còn có Văn hóa dân gian) làm ra, đến mức thành "truyền thống lâu đời và tốt đẹp", nước ấy mới được gọi là nước Văn hiến. Chế Lan Viên cũng viết: "Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành Văn". Càng "nhiều Nguyễn Du" (chớ hiểu theo nghĩa đen), nước càng sớm thành nước Văn hiến. Không học theo các bậc hiền tài, "Văn hóa đại chúng" thống trị là cái chắc! "Văn hóa đại chúng" luôn có và luôn cần, nhưng nó không được giữ vai trò thống trị! "Văn hóa hàn lâm" càng cao - sâu - rộng thì ngay cả "Văn hóa đại chúng" cũng được nhờ. 

Khái niệm "Văn hóa" mà Từ điển tiếng Việt - 1992 định nghĩa mà ta vừa nói tới là Văn hóa "tổng thể". Văn hóa "tổng thể" dần phân nhánh, có khi chỉ để trỏ một di chỉ Văn hóa đặc trưng, như là Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Phùng Nguyên, Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Sơn Vi, Văn hóa Sa Huỳnh, Văn hóa Ốc Eo...; có khi chỉ để trỏ một trình độ - chất lượng Văn hóa hẹp, như là Văn hóa ẩm thực, Văn hóa công sở, Văn hóa học đường, Văn hóa giao tiếp... (đều có cái gốc là Văn hóa nhưng đến đây, đã chuyển nghĩa để thành ra phong cách - phép tắc lịch sự rồi).

Trở lại với đời thường!

Đi du lịch chỉ lo selfie giữa phong cảnh mà không biết rõ về phạm vi, thế núi hình sông, thổ nhưỡng, thổ sản, đời sống dân cư với các nghề nghiệp, nếp sinh hoạt và phong tục tập quán, tôn giáo và dân ca... của họ ở vùng mình đến, thì không thể coi là "Du lịch văn hóa" và thế là mới chỉ "du" (đi chơi không) chứ chưa "lịch" (trong "kinh lịch", "lịch duyệt"...)!

Nguyễn Trãi, vì "du" nhiều và "lịch" cũng nhiều, thâu nhận "Văn hóa" với "Văn minh" khắp nước, mới có thể viết nổi "Dư địa chí", góp một chút vào "Văn hiến" nước nhà (Tư Mã Thiên mà chỉ đi selfie khắp Trung Hoa, chắc chắn không tài nào viết được "Sử ký!"). Nguyễn Trãi cũng luôn coi "Văn hóa" là cái gốc để "Có Nhân có Trí có Anh hùng". Ông còn chủ trương (rất đúng) rằng, "Văn hóa" phải dùng để "Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược".

Bác Hồ ta từng nói: "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" là một cách nói khác, mới lên, cái tinh thần "Trọng Văn" của cha ông. Đó cũng là chân lý ngàn đời.

"Văn hóa soi đường cho quốc dân đi", hình tượng hóa ra, theo lời Bác, "Văn hóa" là ngọn đuốc, là ánh sáng soi đường đi cho "quốc dân" để họ vượt qua mông muội, tăm tối, lạc hậu, nghèo nàn, khổ đau nhằm tới thanh bình - ấm no  - hạnh phúc. Thế là trong lời Bác cũng đã có sẵn cả cái chức phận của "Văn hóa": "Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược" mà Nguyễn Trãi chủ trương. Nghĩ rộng thêm là, "quốc dân" cần đi theo, đi với, đi dưới, đi cùng, đi trong ánh sáng "Văn hóa". Trên con đường "Trọng Văn" ấy, những ai cố gắng đều có thể dần nhập vào cái ánh sáng ấy, góp vào cái ngọn đuốc ấy, rồi trở thành một phần, chí ít là một đốm sáng của "Văn hóa". Càng đông người như thế, "Văn hóa quốc dân" càng cao thêm. Ai xuất chúng, người ấy thành "hiền tài" - "nguyên khí quốc gia". Đến đây, ta lại gặp Nguyễn Trãi, ở chỗ coi "Văn hóa" là cái gốc để: "Có Nhân, có Trí, có Anh hùng". Ai không biết "Trọng Văn" mà chối bỏ việc đi trong ánh sáng "Văn hóa", dù hữu hay vô thức, đều là người cản trở sự tiến bộ (chưa kể những người với chủ tâm riêng, ngược đường "Văn hóa") và sớm muộn cũng sẽ chìm trong bóng tối của sự mông muội, lạc hậu, tha hóa, suy đồi, phản "Văn hóa".

Suy thêm, ngày nay ai đứng ngoài những thứ "trừ" trong lời Nguyễn Trãi và đứng ngoài việc dùng "Văn hóa" để "soi đường cho quốc dân đi" như Bác Hồ dạy, thì không thể được coi là người "Trọng Văn". "Văn" trong "Trọng Văn" gồm cả "Văn hóa", "Văn minh", "Văn hiến".

Có tiền không mua ngay được "Văn hóa" nhưng có thể đầu tư cho "Văn hóa" để lâu dài, có được một nền "Văn hóa" đương thời tốt mà vẫn không xa rời truyền thống. Nước đã vậy mà mỗi nhà cũng vậy. Không thể có các Bộ trưởng Văn hóa như Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn... được! Họ làm hỏng cả "Văn hóa", "Văn minh" và không thể đóng góp gì cho "Văn hiến".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đang làm cho Đảng và chính quyền ta trong sạch, chính là đang dùng "Văn hóa" như Nguyễn Trãi và Bác Hồ dạy, đang "Trọng Văn", tức là dùng "Văn hóa" để vừa "soi đường cho quốc dân đi", vừa "trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược". Phía "quốc dân" gần đây, những "Cây ATM gạo" trong dịch COVID-19... đã chứng tỏ rằng, truyền thống "Văn hóa" ta đang sống và dễ lớn dậy, nếu "Trên nóng" và "Dưới cũng nóng".

Trở lại với đời thường!

Đi du học, chỉ thấy "Văn minh" của người và khi về nước, không những không buồn làm việc, lại suốt ngày "vọng ngoại bài nội", quên hoặc hạ thấp "Văn hóa", "Văn minh" và "Văn hiến" dân tộc, chỉ muốn sống như Tây, làm thơ như Tây, ăn mặc - ăn nói như Tây... thì cũng chỉ là mới "du" để "học" cái bề ngoài (có thể là tiến bộ và tốt đẹp) của họ mà thôi! Du học để đem cái hay của thiên hạ về nước, "hợp dung" được với "Văn hóa", "Văn minh", "Văn hiến" nước nhà cho hiệu quả mới là du học thực.

Có rất nhiều ví dụ lớn trong lịch sử: Nhà Lý, nhà Trần (1009 - 1399) sở dĩ huy hoàng vì đã không vọng ngoại, cố gắng "Giải Trung" (Tìm hiểu để học cái hay cái đẹp của Trung Hoa, bỏ đi những cái không hợp để bồi đắp Văn hiến Việt, để bang giao với Trung Hoa trong tư thế đĩnh đạc; không phải là "Bài Trung" - gạt bỏ họ), không máy móc học và xây dựng triều đình của mình bệ vệ, "quan phương"; đe dọa và hào nhoáng như các triều đình Trung Hoa, tiếp tục chủ trương của Khúc Hạo ("Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, dân chúng đều được yên vui" - Cương mục). 

Lý - Trần luôn tuân theo cương lĩnh bốn chữ: KHOAN - GIẢN - AN - LẠC và phát triển theo hai định hướng: DÂN TỘC - THÂN DÂN. Thực chất, cả Khúc Hạo và Lý - Trần đều thừa kế cái tinh thần có trong truyền thuyết Hùng Vương: "Vua tôi cùng cày, không phân ra uy quyền đẳng cấp, không ai xâm lấn ai, mọi người gần gũi yêu thương nhau".

Hồ Quý Ly bại vì không THÂN DÂN, nên quân trăm vạn - trăm vạn lòng! Hồ Quý Ly lại còn xây dựng triều đình theo mô hình phong kiến Trung Hoa. Chính mình thì bỏ cả họ cũ (Lê) bao đời trên đất Việt, tìm gốc tổ ở Trung Hoa, coi mình là dòng dõi Ngu Thuấn, đổi sang họ Hồ và đặt tên nước là Đại Ngu...

Trở lại đời thường!

Khi chưa đủ "Văn hóa", chưa hiểu "Văn minh", mập mờ về "Văn hiến", sao có thể có "Lối sống" hay? Không có "Lối sống" hay, bảo sao lại không "Suy thoái về đạo đức"? Sao lại không dễ "Tự diễn biến", tha hóa - suy đồi? Sao lại không nhũng nhiễu? Sao lại không "Trên nóng dưới lạnh"? Sao lại không "Hành là chính" v.v...

Văn - Nghệ cũng vậy: Nếu chỉ sáng tác cho giống Tây, giống Hàn... hay chỉ bó hẹp trong việc tự do bộc lộ cái riêng tư (có khi không ảnh hưởng tích cực gì đến nhận thức và tình cảm của xã hội)... thì "Văn hóa" nước nhà tất suy, "Văn hiến" không nhận được thêm gì để nối dài truyền thống, và lại đòi bỏ "Lễ" trong giáo dục như vài ba giáo sư từng nói thì thậm nguy!

Đỗ Trung Lai

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).