Vấn đề sinh thái trong thơ Việt

Nhờ có nhiều nét tiến bộ ưu trội, mang tính thời sự cao, lại phù hợp với nhiều nền văn hóa nên khuynh hướng phê bình sinh thái đang được hưởng ứng rộng rãi trên thế giới. Vì còn mới mẻ nên giới khoa học vẫn chưa thống nhất thuật ngữ, ở Anh hiện gọi là “nghiên cứu xanh” (Green study), ở Mỹ gọi là “phê bình sinh thái” (Ecocriticism), Úc gọi là “phê bình văn học môi trường” (Environmental literary criticism)… 

Tôn trọng Trái đất tức tôn trọng con người, phá hủy Trái đất tức phá hủy căn nhà con người sống, tàn phá môi trường tức làm thui chột tính người. Đó là tinh thần nhân văn đáng quý của hướng nghiên cứu này… Nó kêu gọi con người phải hòa hợp, giữ gìn, tôn trọng tự nhiên, sống chung với tự nhiên.

Một nội dung cơ bản của triết học văn hóa đương đại là đối thoại, mà căn cứ để đối thoại là hiểu biết (tự nhiên); bình đẳng (với tự nhiên); tôn trọng, và biết lắng nghe (tự nhiên). Ngay Thế vận hội mùa Hè Rio de Janeiro 2016 vừa diễn ra tại Brazil nổi tiếng môi trường xanh cũng kêu gọi toàn thế giới bảo vệ môi trường và bầu không khí.

Phê bình sinh thái, hiểu một cách giản dị là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường, đề xuất quan niệm lấy “trái đất làm trung tâm” nhằm gắn kết và gắn nối môi trường tự nhiên và văn hóa để kiến tạo văn bản văn hóa về môi trường.

Như một tất yếu, phê bình sinh thái đương đại kêu gọi quay trở về với giá trị văn hóa phương Đông, mà từ hàng ngàn năm nay với thuyết “thiên nhân hợp nhất” luôn quan niệm con người thống nhất, hài hòa với tự nhiên, là một phần của tự nhiên: “Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật” (Lão Tử).

Khổng Tử còn dạy học trò thuận theo tự nhiên thì phải tôn trọng nó, không được đốn cây lớn trong mùa xuân, không được bắt cá nhỏ. Trong truyền thống văn hóa Ấn Độ, trước khi làm nhiệm vụ trị vì quốc gia, các vị anh hùng đều phải có thời gian tu thân trên núi cao, trong rừng thẳm để hòa mình vào thiên nhiên, tu trí, tĩnh tâm.

Là một cộng đồng dân tộc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm cây cối hoa lá quanh năm tươi tốt nên cảm quan của người Việt Nam là cảm quan của thiên nhiên cây cỏ. Từ hàng ngàn năm nay, người Việt chung sống hài hòa với thiên nhiên, thiên nhiên luôn là đối tượng thẩm mỹ để họ sáng tạo nghệ thuật, nhất là với thơ ca.

Ảnh có tính chất minh họa, nguồn Internet.
Ảnh có tính chất minh họa, nguồn Internet.

Hôm nay, soi lý thuyết phê bình sinh thái hiện đại vào thơ Nguyễn Trãi, thật ngạc nhiên và tự hào khi thấy trong thế giới thơ ông gần như là sự chứng minh cho các luận điểm cơ bản của lý thuyết này. Có thể khẳng định, vĩ nhân ấy là con người của nhân loại, mang tầm văn hóa nhân loại, đi trước thời đại hơn 600 năm.

Thiên nhiên tràn ngập trong thơ Nguyễn Trãi, hầu như bài nào cũng có sự xuất hiện của thiên nhiên, nhất là cái đẹp nơi thiên nhiên luôn gần gũi gắn bó với con người. Vì tôn trọng cái đẹp, yêu cái đẹp mà đau xót, tiếc nuối cho cái đẹp không có người thưởng thức. Xuân đi, hè đến, cả chủ thể và nhân vật trữ tình (cô gái) trong bài thơ này đều tiếc xuân: “Vì ai cho cái đỗ quyên kêu/ Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu/ Lại có hòe hoa chen bóng lục/ Thức xuân một điểm não lòng nhau” (Cảnh hè, Thơ Nôm). Một tứ thơ hay, một sự tinh tế chỉ có được khi tác giả lắng nghe bước đi của tạo vật: mùa hè lại có hoa hòe đem đến vẻ xuân gợi ở người sự “não lòng” tiếc xuân.

Nhà thơ cảm nhận cái đẹp luôn trong trạng thái non tơ đang cựa quậy chứ không tròn trịa đã vào thời viên mãn, thậm chí ở thời điểm khởi đầu: “Xuân chầy liễu thấy chưa hay mặt/ Vườn kín hoa truyền mới lọt tin/ Cành có tinh thần ong chửa thấy/Tính quen khinh bạc bướm chăng gìn/ Lạc Dương khách ắt thăm thinh nhọc/ Sá mựa cho ai quẩy đến bên” (Đầu Xuân đắc ý, Thơ Nôm).

Vì xuân đến chậm nên liễu chưa thấy mặt. “Vườn kín hoa truyền mới lọt tin” tức hoa mới chớm nụ, hương hoa mới chớm bay ra khỏi vườn kín nên “ong chửa thấy” mà tìm đến nhưng bướm thì chẳng biết giữ gìn gì cứ vô tư đậu vào cành. Đúng là thế giới của cái đẹp “non tơ phong nhụy”, tất cả như đang phập phồng xuân khí.

Đất Lạc Dương là kinh đô Trung Quốc thời Ngũ đại vốn rất đẹp, từng là nơi tụ hội các thi nhân. Lạc Dương đẹp thế nhưng nơi này đẹp không kém nên ta chẳng cho (sá mựa) ai quẩy xuân này đến đó mà đem cái đẹp của ta đi. Cũng chỉ mạo muội “diễn nôm” câu thơ để thấy phần nào cái đẹp của ý thơ phải nói là tuyệt bút này. Nhưng có thể hiểu một triết lý của triết gia Nguyễn Trãi: Cái đẹp, đẹp nhất là ở buổi ban đầu… Đặc sắc hơn là nói bằng hình tượng thơ.

Thơ Ức Trai có lúc đậm chất huyền thoại để diễn tả cái đẹp hư ảo mong manh, cũng là để giãi bày tấc lòng say, tiếc, trân trọng cái đẹp: “Một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt/ Khoan khoan những lệ thỏ tan vừng” (Thơ tiếc cảnh, Thơ Nôm). Hình tượng thơ kiến tạo trên nền thần thoại: trên mặt trăng có thỏ giã thuốc tiên. Nhưng tất cả là hư ảo nên không biết đó là tiếng chày con thỏ giã thuốc trên mặt trăng hay tiếng chày dưới trần thế, vì vậy mà thi nhân mới thốt lên “khoan khoan” kẻo tiếng chày làm vỡ mất vầng trăng. Đây không phải thơ của người mà là thơ của tiên. Phải là thi tiên mới có những câu như vậy!

Kế thừa quan niệm, thi pháp và thành tựu từ Nguyễn Trãi, thơ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng rất nhiều hình ảnh thiên nhiên, nhiều nhất là hình ảnh mùa xuân. Chỉ tiếc ông làm thơ hầu hết bằng chữ Hán. Mùa xuân trong thơ Trình Quốc Công biểu trưng cho sự sống sinh sôi, nảy nở, ấm áp, tươi vui. Với nhà thơ chữ Xuân đồng nghĩa với chữ Hoà: “Mộ xuân tối ái nhất thiên hòa/ Cuối xuân thích nhất là khí trời luôn hòa dịu” (Mộ xuân); “Thiều quang thục úc kháp giai thần/ Ánh sáng xuân dịu, đúng là tiết tốt lành” (Tân niên hý tác).

Xuân cũng đồng nghĩa với cái đẹp: “Am quán trùng lai hựu nhất xuân/ Tứ thì giai cảnh tối nghi nhân - Lại mùa xuân nữa đến với quán am/ Phong cảnh bốn mùa rất đẹp, hợp với con người” (Hữu bộ hạ tân huyện). Thiên nhiên thiên về tĩnh với gam màu xanh trong: “Thanh phong minh nguyệt vi ngô hữu/ Bích thủy thanh sơn độc tự ngu - Gió mát trăng sáng là bạn của ta/ Nước biếc non xanh vui riêng mình” (Tân quán ngụ hứng 24).

Trước cửa cái lều của thi nhân có cành tre la đà nhìn ra vùng sông nước: “Ngô ái ngô lư thủy trúc thanh/ Ta thích lều ta có cảnh tre nước trong xanh”. Thiên nhiên vừa là bạn hữu vừa là đối tượng sáng tác, lại là nơi để sống thanh sạch nhất, theo đúng nghĩa của từ này: “Thi tá oanh hoa thiên thủ hữu/ Phong lâm kỉ án nhất trần vô - Thi tứ về hoa và chim, sẵn có nghìn bài/ Gió lọt vào án sách và ghế, không một hạt bụi” (Tân quán ngụ hứng).

Đến thời hiện đại, nhà thơ lớn Hồ Chí Minh rất ưa cuộc sống gần nơi thiên nhiên tự do, tĩnh tại, thanh sạch: “Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu…”.

Khi phải gánh vác nhiệm vụ trọng đại lãnh đạo cuộc kháng chiến Bác Hồ vẫn cố dành thời gian hạnh phúc cùng thiên nhiên, làm thơ cùng “bạn” trăng: “Trăng vào cửa sổ đòi thơ”, dành thời gian hạnh phúc cùng con trẻ, cùng cỏ cây: “Việc quân, việc nước đã bàn/ Xách bương dắt trẻ ra vườn tưới rau”… Bác Hồ đã học tập, tiếp thu, kế thừa, phát triển và nâng cao từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến…

Thơ Việt ở ngày hôm nay, nhất là thơ trẻ có một đặc điểm dễ nhận thấy là hay thiên về triết lý, trong khi đó, để có màu sắc trí tuệ không hẳn dễ vì đòi hỏi phải có vốn sống từng trải, vốn văn hóa sâu rộng. Tài năng như Chế Lan Viên cũng phải đợi khi đủ độ chín về hiểu biết và tuổi tác mới có những triết lý về thơ, về đời, về lẽ sống và cách sống. Thế nên, mặc dù có thể thực sự trí tuệ nhưng do còn thiếu sự va đập từng trải nên thơ trẻ triết lý chưa đủ sức thuyết phục bởi sự, khiên cưỡng của hình tượng.

Từ góc độ tiếp nhận cũng cho thấy khi xã hội ngày một văn minh, vật chất ngày thêm nhiều thì con người lại phải đối phó với bao nỗi bất an, là môi trường ô nhiễm, là tai nạn do thiên tai và do chính con người gây ra như giao thông, văn hóa xuống cấp, ô nhiễm không khí…

Do vậy, khao khát sâu thẳm của nhân loại là được sống cùng thế giới trong lành, yên tĩnh, bình an mà tươi tắn sống động. Thế giới ấy chỉ có thể có được ở nơi thiên nhiên chan hòa ánh sáng của mặt trời và ánh trăng, đầy gió và nắng, đầy cỏ và hoa cùng thế giới loài vật quen thuộc, là cánh chim, là tiếng gà gáy, là âm thanh mõ trâu… Thật tiếc, một thế giới trong trẻo, nguyên sơ, thanh khiết ấy lại thiếu vắng trong thơ trẻ hôm nay!

Khi trở về với thiên nhiên là ta có được một thế giới tính từ lấp lánh sắc màu đời sống, một phẩm chất quan trọng của thơ. Hãy minh họa điều này bằng tác phẩm của các nhà thơ đã được khẳng định, với Dương Kiều Minh sở hữu vốn tính từ đáng khâm phục: tim tím, ngai ngái, lấp lóa, âm âm, dìu dịu, thiêm thiếp, heo heo xanh, mênh mang ánh sáng… và hàng loạt hình ảnh làng quê sinh động mà lạ lẫm: con đường hoa vối, giọt sương, ngồng cải, cỏ may…

Với Ngân Hoa là mùi bùn ngai ngái, làn khói xanh âm ẩm dịu dàng, nhỏ nhoi, chập chững, đo đỏ, rôn rốt, chun chút… Với Bằng Vũ là trăng cào ổ lá, mùa núm áo đơm bông, con bướm vàng dạm ngõ, lá sen nghiêng như mặt người quay lại… Và nhiều nhà thơ khác tên tuổi họ gắn liền với các hình tượng thiên nhiên, đúng hơn thiên nhiên đã nâng tên tuổi họ trong thơ, là Hữu Thỉnh, Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Ngô Văn Phú, Nguyễn Duy, Đỗ Trung Lai, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quyến…

Những câu thơ hay nhất của Nguyễn Quang Thiều được lấy cảm hứng từ thiên nhiên: “Những xôn xao lùa qua hơi ẩm/ Vọng về từ cánh đồng rộng lớn mù sương/ Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm/ Chất đầy hương cỏ tươi lăn về nơi hừng sáng… Bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh, một trong những bài thơ hay nhất của ông, cũng về đề tài thiên nhiên…

Xã hội ngày một văn minh, khoa học kỹ thuật ngày một phát triển thì con người càng cần đến thơ, để cân bằng với cuộc sống hối hả, nhộn nhịp, để trở về với thế giới đồng thoại đậm màu cổ tích lung linh, lộng lẫy mà nguyên sơ. Vì thế thơ phải tươi mát hơn, hồn nhiên hơn, trong sáng, ấm áp hơn. Có một con đường ngắn nhất là trở về với thiên nhiên, nhất là với các nhà thơ trẻ!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).