Văn chương và trạng thái của đời sống...

Với cái nhìn thật sâu vào mục đích của văn chương nghệ thuật, cái khó của viết lách, sáng tạo không phải là kể lại được câu chuyện, sự kiện, nhân vật, hay thậm chí là trình ra lối viết, thủ pháp, mà cái khó nằm ở chỗ, nhà văn cần thể hiện được trạng thái của đời sống. Thông qua nhiều dữ kiện, các tác phẩm văn chương nghệ thuật kết nối, xâu chuỗi các sự kiện, nhân vật, để thể hiện khí hậu chung của một thời đại.

Trạng thái ấy, có thể từ một chi tiết nhỏ đến một sự kiện lớn, từ một thân phận đơn lẻ đến khía cạnh phổ quát của nhân loại, nhưng tựu chung, bao trùm lên thời đại, thế hệ người viết, người đọc, định hình một sinh quyển, trước hết như là cái lõi của nhân sinh, sau là cơ sở cho thực hành sáng tạo, thưởng thức, nghiên cứu về sinh thái tinh thần xã hội.

Vậy, trạng thái của đời sống là gì? Hiểu một cách tương đối, trạng thái của đời sống là tính chất, sắc thái của những vận động đang diễn ra, ở cả bề mặt, bề sâu và bề sau của xã hội loài người. Do tính chất bao trùm và xuyên suốt này, trạng thái của đời sống sẽ nằm ở những biến cố, sự kiện, kiểu loại nhân vật… đặc sắc, phổ quát, được lặp đi lặp lại (sẽ có những biểu hiện khác, đi chệch ra khỏi quỹ đạo chung, mang sắc thái khác, nhưng không phải là chủ đạo hay bao quát) nói lên tâm trạng của con người trong đời sống đương đại, với tất cả những can dự có thể, làm nên hiện diện của họ.

Văn chương và trạng thái của đời sống... -0
Văn hóa gắn kết con người, làm con người sống đẹp hơn (Ảnh chụp tour du lịch văn học chữ Tâm chữ Tài tại Bảo tàng Văn học Việt Nam).

Sự âu lo và bất an xuất hiện ngày càng nhiều. Tại sao vậy? Sẽ có nhiều nguyên do để lý giải, tuy nhiên, xét ở góc độ có tính quy luật, thuộc về nguyên lý, âu lo và bất an sinh ra từ việc con người đoàn thể, tập thể đã từng bước nhường chỗ cho con người cá nhân - bản thể. Một khi, con người bản thể kia, phải tự bước ra để định đoạt đời sống của mình, gặp phải muôn vàn thử thách trực tiếp - gián tiếp đến từ kẻ khác, hiện tại, từ quá khứ và cả những dõi nhìn vọng tưởng vào tương lai. Làm sao có thể không âu lo cho được, khi con người phải đối mặt với cơm áo gạo tiền, những dằn vặt về sinh kế, y tế, giáo dục, công lý, môi trường, dịch bệnh, đạo đức, hệ giá trị, hay cả những mơ mộng hoài bão cùng các khả năng thành bại hay dở còn nằm trong mịt mờ bất trắc.

Vận hành trong những âu lo và bất an ấy, hình thái sống là nhịp điệu của những trăn trở không ngừng, tìm kiếm và định dạng, định vị chính mình. Từ những năm tháng bản lề sau cuộc chiến chống Mỹ (1975), đến trước Đổi mới (1986) Hữu Thỉnh viết trường ca "Đường tới thành phố" (1979) đã chú tâm nhiều hơn đến nỗi lo âu của người phụ nữ trước sự phai tàn của tuổi xuân, nhan sắc: "Hai mươi năm chị tôi đi đò đầy/ Cứ sợ đắm vì mình còn nhan sắc/…/ Một mình một mâm cơm, ngồi phía nào cũng lệch/ Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền".

Thời chiến tranh, nỗi bận tâm này, đã được tạm quên đi, chìm lắng xuống để người phụ nữ đứng trong đội hình ra trận, kiên cường với những phẩm chất anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang… Nhanh, mạnh mẽ, khỏe khoắn, hào hùng, sôi sục là nhịp điệu thời chiến. Còn giờ đây, khi đối diện chính mình, con người cá nhân đã thấm thía tận cùng những diễn biến máu thịt từ thể xác tới tâm hồn. Cái nhìn vào trong để tự thấm thía kết hợp với cái nhìn ra ngoài để xác lập, định vị, mang đến chân dung một con người đương đại bồn chồn âu lo, thấp thỏm bất an, khắc khoải trong từng hơi thở.

Mọi thứ không còn được bao bọc trong không khí “nhiệm màu” của thời đại huyền thoại sử thi nữa. Tâm thế lạc quan thời chiến thay bằng “nỗi bất an thời bình” bởi có rất nhiều thứ tự mình (con người cá nhân ấy) phải lo, phải đối mặt. Và dĩ nhiên, cũng có nhiều thứ đã không còn như xưa: "Khi đang đắm yêu nào tin được bao giờ/ Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ/ Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ/ Bạn bè thân thọc súng ở bên sườn" ("Tản mạn thời tôi sống", Nguyễn Trọng Tạo, 1981).

Những nỗi niềm chung riêng, giờ đây được nhìn qua con mắt cá nhân, với những soi chiếu mật thiết từ đời sống, đã đặt con người vào dòng chảy của thế sự, vốn chìm khuất trong thời đại sử thi. Tâm trạng thời đại, nhịp điệu của thời đại được thể hiện rất rõ trong những thực hành viết của Lưu Quang Vũ, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Dương Hướng, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều,… từ cuối thập niên 1980 đầu thập niên 1990, tiếp tục và sau đó định hình một nhịp điệu đến các tác giả hiện thời như Nguyễn Bình Phương, Trương Đăng Dung, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Vi Thùy Linh… hay gần đây như Hạnh Nguyên, Nguyễn Khắc Ngân Vi, Phạm Thu Hà…

Như là sự tập trung để làm sáng rõ không khí của đời sống đương đại, các tác giả đã bằng cách này hay cách khác, chú tâm vào phần ẩn sâu của tâm trạng, cái nhìn, thái độ con người. Đó là tự sự về cái ác hay phía khuất tối của tâm hồn con người trong sáng tác Nguyễn Bình Phương, nơi mà câu chuyện và ngôn ngữ lặn sâu vào lớp trầm tích chưa bị phong hóa bởi các định kiến quan phương. Ta cũng có thể nhận ra những khắc khoải không ngừng về tình thế của tồn tại người, những phôi pha của giá trị nhân văn phổ quát đang đe dọa sự sống hiện sinh một cách ráo riết làm nên “cơn ác mộng hiện đại” trong thơ Trương Đăng Dung.

Cũng tại đây, ta bắt gặp trạng thái “trôi” và muôn vàn bế tắc (chính xác là trôi trong bế tắc) ở những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Khắc Ngân Vi.... Có thể nói, với Nguyễn Ngọc Tư, từ "Cánh đồng bất tận" đến "Không ai qua sông", "Gió lẻ", "Hành lý hư vô", "Sông", "Biên niên sử nước", "Đảo", "Trôi"… đã thể hiện một cách đậm nét tâm trạng của đời sống đương đại.

Thế giới nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư là những con người bé nhỏ, trôi dạt, lưu lạc, cô đơn, và khát thèm những neo đậu bên đường. Họ cứ trôi nổi giữa kênh rạch bưng biền, sông - cánh đồng - phố thị như là định mệnh, nhưng luôn chứa sẵn những hy vọng, kiếm tìm, một ngày nào đó có thể đậu lại. Dẫu có lần, trong miên man trôi, những thân phận ấy đã xác quyết căn cước của mình là thuộc về “xứ không đâu” thì nỗi buồn thương mênh mang vẫn gợi lên hy vọng ở phía cuối dòng, cuối con đường.

Cũng như vậy, nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Ngân Vi ("Phúc âm cho một người", "Đàn bà hư ảo", "Vạn sắc hư vô"), nói như nhà nghiên cứu Phùng Gia Thế, là không sống mà trôi trong đời sống. Đó là một đời sống uể oải, mệt mỏi, nhiều âu lo của đô thị hiện đại. Trôi là trạng thái của điệu sống. Nhưng, ở vào những tình thế khắc nghiệt nhất, trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư và Nguyễn Khắc Ngân Vi (và có thể nhiều nhà văn khác viết về đời sống đô thị hiện đại), ta sẽ bắt gặp cú trôi đứng (rơi), như là cách kết thúc hành trình trôi nhọc nhằn, ám ảnh của con người.

Khắc khoải âu lo và bất an là tâm thế chung của con người đương đại. Văn chương nghệ thuật chỉ thâm nhập và trích xuất được một phần nhỏ, nhưng qua đó cũng nhận ra tình thế của hiện tại. Những âu lo, đe dọa đến từ nhiều phía, thậm chí đến ngay từ những thành tựu kỳ vĩ của con người, vốn sinh ra nhằm làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn lên. Internet, điện thoại thông minh, trí tuệ nhân tạo… có thể xem là đang ở trên đỉnh cao của thành tựu văn minh. Nhưng, mặt trái của nó (và cả tính ưu việt của nó), đang thách thức nhân tính một cách mãnh liệt.

Máy móc có thể thay thế con người trong nhiều việc, thậm chí, đến mức con người hoài nghi chính khả năng của mình trước những việc máy móc công nghệ có thể xử lý. Thành trì cuối cùng, hóa ra lại vẫn là những an ủi đến từ cảm xúc, rằng máy móc thì vô tri, còn con người thì chẳng vô tình. Nhưng, chẳng phải, chính con người đang âu lo về sự vô cảm của mình hay sao? Thật mâu thuẫn, nhưng sẽ thế nào nếu một ngày, máy móc lại cũng có thể có cảm xúc giống như con người?

Văn hóa gắn kết con người, làm con người sống tốt đẹp hơn. Song hành, văn minh với thành tựu vượt bậc từng ngày từng giờ, hy vọng làm cho con người sung sướng hơn, giải phóng con người khỏi rất nhiều công việc phải cần đến trí não hay gân thịt. Mặc dù vậy, trong trạng thái của đời sống hiện đại, dần dà con người lại có xu hướng chối từ công nghệ để quay về với bản thân mình, trải nghiệm sự sống bằng những gì cốt thiết, máu thịt nhất.

Văn chương nghệ thuật, thông qua những hình tượng, sự kiện, cách nhìn, lối thâm nhập khám phá hay biểu đạt… đều là phương tiện để khắc họa trạng thái của đời sống. Tầm vóc của người nghệ sĩ, chính là ở chỗ, anh ta nhìn ra được trạng thái chủ đạo này, trong dòng chảy bộn bề của thời gian. Xét cho cùng, tư tưởng nghệ thuật có thể là gì khác nếu không phải là những bận tâm không dứt về trạng thái sống của nhân loại.

Nguyễn Thanh Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).