Và em gọi đó là hạnh phúc...

Mỗi con người sinh ra ở trên đời, chẳng ai lại không mong muốn mình được hạnh phúc. Tình cảm ấy, mơ ước chung ấy, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, sắc tộc, tôn giáo... Chỉ có điều, mỗi người lại có một suy nghĩ riêng về hạnh phúc và nhiều khi không phải ai cũng có sự cắt nghĩa “hạnh phúc” một cách rõ ràng.

Bắt đầu từ năm 2013, Đại hội đồng Liên hợp quốc với 193 quốc gia thành viên đã nhất trí thông qua nghị quyết A/RES/66/281 chọn ngày 20 tháng 3 hàng năm làm Ngày Quốc tế Hạnh phúc, coi đây là một ngày mang ý nghĩa biểu tượng nhằm quyết tâm thể hiện sự tích cực và những nỗ lực nhiều hơn nữa để xây dựng một thế giới đại đồng, mang lại hạnh phúc cho con người khắp nơi trên trái đất.

Hạnh phúc nằm trong trái tim mỗi người.
Hạnh phúc nằm trong trái tim mỗi người.

1. Trong tiếng Việt, về mặt nguồn gốc chiết tự, “hạnh phúc” là một từ vay mượn từ tiếng Hán với hai thành tố có giá trị đẳng lập: “hạnh” có nghĩa gốc là “may mắn”, còn “phúc” có nghĩa gốc là “tốt lành”. Tựu trung lại, hạnh phúc có nghĩa là may mắn tốt lành. 

Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, giải nghĩa “hạnh phúc” là vận may phúc tốt, coi nó tương đương với từ bonheur trong tiếng Pháp. Trong tiếng Anh, “hạnh phúc” được xem là tương đương với từ “happiness”, vốn xuất phát từ căn tố happy có nghĩa là vui sướng, vui lòng. Như vậy, ta thấy có một điểm chung quan trọng trong quan niệm về hạnh phúc của nhiều quốc gia, đó là hạnh phúc nhất thiết phải gắn với niềm vui. 

Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học) thì định nghĩa về hạnh phúc: “trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện”. Từ điển mở Wikipedia có một quan niệm phong phú hơn: “Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lí trí”. 

Như vậy, mỗi con người có quyền chính đáng được tìm kiếm và xây dựng hạnh phúc cho chính bản thân mình. Tôn chỉ ấy đã được nhắc đến ngay từ những dòng đầu tiên của bản Tuyên ngôn Độc lập, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều bình đẳng sinh ra, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Từ một góc nhìn khác, hạnh phúc nên là sự vừa lòng của cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần mà theo Nguyễn Hiến Lê, “về vật chất nên giữ ở mức trung, còn về tinh thần thì nên cao hơn mức ấy”.

2. Nhìn lại thơ ca của người Việt trong thế kỷ XX, nhất là giai đoạn kháng chiến, có thể thấy một điều quan trọng như sau: Hạnh phúc của mỗi cá nhân luôn được đặt trong hạnh phúc của tập thể, của cộng đồng, dân tộc. Đó là cái riêng đặt trong cái chung, ước mơ khát vọng, tình cảm của một người cũng là của mọi người. 

Điệp khúc “Và em gọi đó là hạnh phúc…” trở đi trở lại nhiều lần trong bài thơ nổi tiếng của Dương Hương Ly: “Hạnh phúc là gì? Bao lần ta lúng túng/ Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi vẫn chưa ra/ Cho đến ngày cất bước đi xa/ Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt/ Nhớ chăng em cái mùa mưa đói quay đói quắt/ Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng/ Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng/ Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt/ Bao dốc cao em cần cù đã vượt/ Và mỗi lần ngồi nghỉ, em nhìn anh/ Em nói tới những điều em định viết/ Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép/ con sông Giàng gầm réo miên man/ Nước lũ về…Trang giấy nhỏ mưa chan/ Và em gọi đó là hạnh phúc” (Bài thơ về hạnh phúc). 

Thế mới biết khi được sống và cống hiến đúng với lý tưởng của mình, những gian khó, vất vả nhất vẫn có thể khiến mỗi người cảm nhận được những giây phút ấm lòng. Người con gái trong bài thơ đã ngã xuống, mãi mãi chẳng thể trở về bên những người yêu thương, song tinh thần của chị, tình cảm của chị là bất diệt. 

Và chính những con người đã ngã xuống ấy góp phần làm nên hạnh phúc cho những người ở lại, cho thế hệ hôm nay và mai sau: “Và em ơi ngày sum họp ngày mai/ Giữa chúng mình/ Còn tên những bạn bè ngã xuống/ Những người hay mơ mộng/ Tha thiết yêu và muốn được làm chút gì/ Cho anh cho em, cho đất nước/ Đôi tay họ, đôi bàn tay trong sạch/ Đã vùi sâu giữa đất/ Sẽ vươn giữa hai ta như những nhành cây/ Những nhành cây ôm chặt cuộc đời này/ Giữ cho những người yêu tròn hạnh phúc” (Thử nói về hạnh phúc – Thanh Thảo)

Hạnh phúc chính là con đường.
Hạnh phúc chính là con đường.

2. Hạnh phúc, đứng từ một góc nhìn khác, có khi lại nằm trong quá trình đi đến đích chứ không phải cái đích cuối cùng, bởi như nhà triết học cổ đại Gautama Buddha đã từng nói: “Không có con đường nào dẫn đến hạnh phúc bởi hạnh phúc chính là một con đường”. 

Trên con đường ấy, mỗi người sẽ tha hồ cảm nhận về hạnh phúc với đủ các cung bậc, cả ngọt ngào lẫn xót xa, cả những gì mơ hồ bảng lảng khó nói được thành lời: “Có thể ngày mai ta cũng đi qua/ Một cánh cửa nao lòng trong truyện “Tuyết”/ Có tiếng chuông và con mèo Akhip/ Ánh nến mơ hồ như hạnh phúc từng mong…/Và hạnh phúc vỡ ra như một nốt đàn căng/ Nốt cao quá trong đời xao động quá!/ Hạnh phúc cực hơn mọi điều đã tả/ Lại ngọt ngào, kỳ lạ, lớn lao hơn” (Nghĩ lại về Pauxtopxki – Bằng Việt)

Cái hành trình đi tìm hạnh phúc còn trở lại trong thơ Việt sau 1975 với những câu thơ của Cao Xuân Sơn: “Hạnh phúc là tìm kiếm để hy sinh/ Những báu vật trong mắt nhìn lấp lánh/ Tay đã trong tay mà lòng không yên tĩnh/ Được yêu nhau là để được bắt đầu/ Cuộc kiếm tìm chẳng một phút ngừng đâu/ Hạnh phúc!” (Hạnh phúc). 

Tôi bỗng muốn nói nhiều hơn tới hạnh phúc trong tình yêu lứa đôi. Hạnh phúc của tình yêu thực ra mới là thứ khó nói nhất. Ngay cả khi những tình yêu chỉ còn là hoài niệm, thì những khoảnh khắc đi qua vẫn như những hạnh phúc đọng lại mãi mãi trong ký ức con người. 

Nữ sĩ Onga Becgon đã viết nhiều câu thơ về một miền hạnh phúc trong quá khứ như thế: “Anh hãy trở về trong giấc mơ em/ Dẫu trong mơ anh không còn như ảnh/ Anh một thuở như cuộc đời, như mưa như nắng/ Như tuổi thanh xuân như hạnh phúc vô bờ” (Không đề - Ngân Xuyên dịch), “Em chẳng bao giờ tiếc trái tim đâu/ Trong vui sướng khổ đau, trong đam mê, tình bạn/ Cái gì xảy ra thì đã xảy ra…/ Anh thân yêu, hãy tha thứ cho em anh nhé!/ Cay đắng, xót xa…/ Nhưng dù sao, đó cũng là hạnh phúc” (Nhưng dù sao đó cũng là hạnh phúc – Mai Xuân Huy dịch). 

Ai đó đã nói: “Không có tình yêu bất tử, chỉ có những giây phút bất tử của tình yêu”. Và hạnh phúc cũng vậy, dường như nó chỉ đọng trong phút giây với lứa đôi này, để rồi lại bay đi như món quà Tạo hóa dành cho lứa đôi khác: “Người cho tôi hạnh phúc/ Luôn như gió vội bay/ Người dâng tôi cả đời/ Không được gì đền đáp” (Hình tam giác muôn đời – Tove Ditlevxen, Hồng Thanh Quang dịch). 

Điều quan trọng có lẽ là dám sống hết mình, cháy hết mình trong những khoảnh khắc của tình yêu: “Tôi đã yêu đã yêu như chết là hạnh phúc/ Tôi đã quên mình chỉ để nghĩ về em/ Người đàn bà giấu đêm vào trong tóc/ Còn điều chi em mải miết đi tìm” (Khúc mùa thu – Hồng Thanh Quang). 

Bởi thi sĩ rất hiểu rằng, hạnh phúc đến ngày hôm nay nhưng có thể dời đi bất cứ lúc nào: “Rằng tất cả chỉ là mộng mị/ Những vinh hoa phú quý trên đời/ Những hạnh phúc và không hạnh phúc/ Có hay không cũng chỉ tạm thời” (Có những ngày tôi nhớ em vô cớ - Hồng Thanh Quang).

3. Trong đời sống hiện đại, trở về với những lo toan của cuộc sống bộn bề, mỗi con người trong từng ngày phải vun vén cho hạnh phúc của chính mình. Và ta cũng hiểu rằng, hạnh phúc không đến với tất cả mọi người giống nhau: “Nơi còn hòa bình nơi khác chiến tranh/ Phía trước văn minh đằng sau tăm tối/ Người sang kẻ hèn người no kẻ đói/ Trên thế giới này hạnh phúc chẳng chia đều” (Phép chia không có lỗi – Phi Tuyết Ba). Nam Cao cũng nói về điều này một cách cô đọng hơn trong truyện ngắn của ông: “Hạnh phúc như một cái chăn hẹp. Người này co thì người kia bị hở” .

Xã hội Việt Nam đã đi qua nhiều đổi thay nhưng có những giá trị vẫn là vững bền mãi mãi. Chúng ta đã vượt lên những năm tháng khó khăn của chiến tranh, bom đạn để giành lấy hạnh phúc, hòa bình. Để rồi mỗi lứa đôi có thể bên nhau hạnh phúc, yên bình trong những mùa xuân bất tận của hôm nay và mai sau: “Hạnh phúc đâu chỉ có cơm ngon và áo đẹp. Mùa xuân đâu chỉ có hoa thơm và nắng hồng. Cuộc đời còn có cả những 1 nụ hôn” (Mùa xuân bên cửa sổ - Nhạc: Xuân Hồng, thơ: Song Hảo).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).