Tú Xương - Người tiên phong đối thoại!

Khái niệm cơ bản của triết học văn hóa thời hội nhập 4.0 là “đối thoại”. Bởi chỉ nhờ đối thoại con người ta mới có thể thấu hiểu về nhau, thấu cảm cùng nhau để hướng tới những điều thiện lành. Hiểu biết sẽ nhân lên hiểu biết, sáng tạo sẽ nhân lên sáng tạo, con người được là chính mình, làm chủ rồi làm mới mình. Tinh thần dân chủ của đối thoại thể hiện rõ ở chỗ nâng vị thế của người tiếp nhận từ bị động thành chủ động. Đối thoại làm nên bản chất cuộc sống.

Có lẽ Hồ Xuân Hương là người sớm nhất đưa ngôn ngữ đối thoại vào thơ trào phúng nhưng chưa thật rõ. Đến Nguyễn Khuyến đã cụ thể hơn nhưng cũng chỉ “một giọng”. Phải đến Tú Xương mới rõ hẳn với lời thơ có hai/nhiều bè giọng hẳn hoi, có trao đổi, tranh biện, cật vấn, tiến lui… tạo cho tác phẩm là “vũ đại vật lộn của hai/nhiều giọng”.

Thế giới thơ Tú Xương là thế giới của giọng, đa thanh, “phức điệu”. Đây là dấu hiệu rõ nhất về tính hiện đại của thơ để tôn vinh nhà thơ là người mở đầu đưa ngôn ngữ đối thoại vào thơ, cũng là người thành công nhất. Trong lời người kể có sự tham gia của lời kẻ khác, có khi không cụ thể, một phiếm chỉ “người ta” nào đó: “Tôi thấy người ta vẫn bảo rằng…” (Gái góa nhà giàu). Có khi là nhân vật thực tế: “Ấm Kỷ này đây tớ bảo này/ Cha con mày phải cái này cay!” (Chửi cậu ấm). Bài thơ có giọng của “tớ” thân mật suồng sã nói với ấm Kỷ, ẩn trong giọng “tớ” là giọng người khác “chửi” ấm Kỷ…

Đối thoại Tú Xương vượt qua đối đáp trữ tình điệu ngâm trong ca dao để gần với trữ tình điệu nói ngoài đời. Chỉ một lời xuất hiện nhưng vẫn mang tính đối thoại rất rõ: “Người đói, ta đây cũng chẳng no/ Cha thằng nào có tiếc không cho” (Thề với người ăn xin) nhưng vẫn hình dung rõ lời của chủ thể đối diện với người khác (người ăn xin). Câu đầu nêu hoàn cảnh “ta” với giọng chia sẻ ngậm ngùi đồng cảm. Câu sau có một giọng nổi mang chức năng thanh minh: ta có tiếc đâu, vì không có thôi; nhưng giọng chìm lại hướng tới đối tượng khác: “Cha thằng nào có tiếc không cho”. Tức chửi bọn giàu có mà keo kiệt! Đây là hiện tượng “phức điệu” giọng trong giọng cùng vang lên, xung đột nhau, không đồng hướng trong một lời.

Có đối thoại giữa lời gián tiếp và trực tiếp: “Mợ bảo vần tây chẳng khó gì/ Cho tiền đi học để chờ thi/ Thôi thôi lạy mợ xanh căng lạy/ Mả tổ tôi không táng bút chì!” (Không học vần tây). Có thể “thông diễn” bài thơ thành cấu trúc một vở kịch ngắn: vợ khuyên chồng, cho tiền chồng đi học “vần tây”; chồng xin “lạy” với lý do: “Mả tổ tôi không táng bút chì!”. Nhưng giọng “mợ” là gián tiếp để một giọng “tôi” nổi lên, làm chủ. “Tôi” kể với độc giả về nội dung câu chuyện lại như “giải trình” với “mợ”. Đây là hiện tượng một giọng nhưng hướng tới hai đích.

Có trường hợp tuy bề ngoài một giọng nhưng lại có xu hướng mời gọi những giọng khác “đồng hướng” cùng tham gia, đồng cảnh, đồng cảm: “Chị hỡi chị, năm nay túng lắm/ Biết làm sao, Tết đến nơi rồi” (Tết cô đầu). Cuối bài những giọng này “chụm” lại thể hiện một sự “đoàn kết nhất trí”: “Chị em ta cùng nhau giữ giá/ Đến bây giờ ngã cả chẳng ai nâng/ Cũng liều bán váy chơi xuân…”. Đúng là không phân biệt được giọng của một ai mà là giọng chung của những kẻ chung hoàn cảnh “cùng hội cùng thuyền”.

Cuối cùng là chung sự phẫn uất, chua chát, khốn cùng: “Cũng liều bán váy chơi xuân”. Dân gian dùng khẩu ngữ thông tục “bán váy ăn chơi” diễn tả tình trạng khốn khổ trơ trẽn thảm hại đến mức liều lĩnh cố cùng. Bài thơ đắt nhất ở hai chữ “bán váy” này, đúng cả nghĩa đen nghĩa bóng! Muốn có giọng riêng phải kỳ công “thôi xao” chọn chữ là vậy!

Lại có trường hợp ba giọng đan bện vào nhau làm thành một bè bình luận. Mẹ vợ thông dâm với con rể rồi có con được miêu tả ở hai câu thực đầy sự dở dang, tiếc nuối, ngán ngẩm: “Chép miệng bà nuôi to cái dại/ Phờ râu ông rể ẵm con so”. Hai câu luận: “Cắm sào sâu quá nên thêm khổ/ Néo chặt dây vào hóa phải lo” (Mẹ vợ với chàng rể) thì đúng với cả hai nhân vật, cả hai đều đủ tư cách làm chủ giọng ấy. Người kể cám cảnh cho tình thế dở khóc dở cười mà cũng an ủi bằng cái giọng “chia sẻ” này. Thậm chí còn giọng thứ tư cũng tham gia vào “bè đồng giọng” là giọng dân gian, bởi nó thoát thai từ tục ngữ: “Cắm sào sâu khó nhổ” và “Già néo đứt dây”. Nhưng giọng này “xa vắng” và “mở” hơn, như mời gọi thêm các giọng đồng hướng khác cùng nhập vào, để cùng bàn tán, hài hước, giễu cợt, mỉa mai...

Tính hiện đại của thơ Tú Xương trước hết là nhờ tạo ra giọng điệu đa dạng, mới mẻ, cách tân mà gần gũi. Nhìn từ phương diện này cũng cho thấy nhà thơ xứng đáng là ngọn cờ đầu đổi mới thơ, tạo ra một dòng thơ khác, giọng thơ khác, mới hẳn so với trước đó.

Do yêu cầu của giọng mà xuất hiện một “đặc sản” tiếng cười Tú Xương là ngôn ngữ bình luận sắc lẻm phát huy đến tối đa tính chất nhận xét, đánh giá về sự việc, sự kiện, nhân vật: “Sĩ khí rụt rè gà phải cáo/ Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi” (Than đạo học). Động tính từ “rụt rè” đi cùng với thành ngữ “Gà phải cáo” là một so sánh vật hóa cho thấy tinh thần khí tiết của tầng lớp nho sĩ xuống đến mức thảm hại nhất: nhu nhược, căng thẳng, sợ hãi. “Liều lĩnh” kết hợp với thành ngữ “Cố đấm ăn xôi” lại cho thấy sự xuống dốc ở mặt ngược lại, vì sợ hãi mà thành ra liều lĩnh, cố nói liều theo ý quan trường không cần đúng sai, miễn sao được đỗ!

Bài “Năm mới chúc nhau” rất tiêu biểu cho tính kịch, kết thúc bất ngờ, ngôn ngữ đối thoại, giọng bình luận đay đả, chỉ trích, mỉa mai. Mỗi khổ là cặp mâu thuẫn quyết liệt của hai giọng, giọng “chúc” của “nó” (chúng nó) và giọng “ông”. Giọng “ông” đi sau nhưng luôn có ý thức “đè” giọng trước: “Phen này ông quyết đi buôn cối/… Phen này ông quyết đi buôn lọng” (chữ quyết thanh trắc khẳng định mạnh mẽ đặt giữa câu). Càng gần cuối bài mâu thuẫn càng được đẩy cao, bình luận giễu cợt cũng riết róng hơn: “Nó lại mừng nhau sự lắm con/ Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn/ Phố phường chật hẹp người đông đúc/ Bồng bế nhau lên nó ở non”.

Câu cuối đã đủ đau: rồi lũ chúng mày sẽ thành loài khỉ ở trên núi! Nhưng đúng với phong cách bình luận Tú Xương, có thêm khổ cuối - vốn không phải của nhà thơ mà của độc giả dân gian chêm vào, vẫn rất hợp lý: “Bắt chước ai ta chúc mấy lời/ Chúc cho khắp hết ở trên đời/ Vua quan, sĩ thứ người muôn nước/ Sao cho ra được cái giống người!”. Lời bình đau quá, xét về nội dung thì đúng là không phải của Tú Xương bởi là nhà Nho, dù phẫn uất đến mấy vẫn chưa dám “phạm thượng” khi chúc “vua quan” “ra được cái giống người”, tức đang ở tình trạng chưa thành người, là loài vật!

image003.jpg -0
Hình ảnh lễ xướng danh năm 1897.

Bình luận có khi qua miêu tả: “Cổ cong mặt lệnh người đâu thế?” (Cô hầu gửi quan lớn) mỉa ông quan lớn bội tình có cổ to như “cong” (thứ chum thon đựng nước), mặt to như “lệnh” (nhạc khí tròn như mâm đồng nhỏ). Theo quan niệm dân gian, đó là loại người phàm phu. Bình luận qua câu hỏi mỉa: “Có đất nào như đất ấy không?” (Đất Vị Hoàng) tức coi đất đó nhiều nghịch cảnh. Để tăng cường thêm tính chất bình luận cho vừa đúng với tính chất, bản chất hiện tượng, vừa đậm tính cá thể hóa, thơ Tú Xương đầy những tiếng chửi: “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” (Thương vợ); “Đù cha đù mẹ đứa riêng ai” (Đùa ông hàn)…; đầy những tiếng thề: “Việc bác không xong tôi chết ngay!” (“Bỡn người làm mối); “Mai mà tớ hỏng tớ đi ngay!” (Mai mà tớ hỏng).

Thề cả với người ăn xin (tên một bài thơ). Đầy những tiếng nhại: “hẩu lố” (tốt đấy - tiếng Quảng Đông), “Mét xì” (cảm ơn - tiếng Pháp); “cống hỷ” (tiếng chào - tiếng Quảng Đông); “xanh căng” (năm mươi - tiếng Pháp); “Ă, â, u, ơ ngọn bút chì”… Còn là lời than, lời chế, lời giễu, lời đùa, lời bỡn, lời khuyên, lời nhắn… Tất cả nhằm góp phần làm cho thế giới lời văn giọng điệu Tú Xương đa dạng, phong phú, đầy sự xôn xao, đầy sự suồng sã bông phèng của cuộc sống trào tiếu tréo ngoe những nghịch cảnh, nghịch dị.

Chủ trương đưa chất văn xuôi phồn tạp vào thơ nên dễ hiểu nhiều chỗ nhà thơ cố tình “thất niêm”. Câu cuối bài “Giễu ông đồ Bốn ở phố hàng Sắt” không chuẩn “niêm”: “Mũi nó gồ gồ trán nó dô”. Bài “Chế ông đốc học” bốn câu thì hai câu dưới cứ như bị “văng ra” khỏi cấu trúc niêm luật: “Học trò chúng nó tội gì thế/ Để đến cho ông vớ được đầu”... Nhờ tính “lệch chuẩn” này lại nói rõ hơn về sự “lệch lạc” thiếu chuẩn mực của đối tượng bị chế: là đốc học mà chẳng quan tâm đến việc học, chỉ “Cờ bạc rong chơi rặt một màu”…!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).