“Tự thanh”, lời trong của một người quê

Với hai chữ “Tự thanh”, nhà thơ Hải Thanh đã xuất bản đến 4 tập thơ, gần nhất là “Tự thanh 4”, ra mắt vào cuối năm 2023 (NXB Hội Nhà văn). Cái tên thi tập nghe là lạ. Tôi gọi điện thắc mắc thì nhà thơ người Vĩnh Phúc, đương nhiệm Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phúc chỉ cười mà rằng: muốn hiểu thế nào cũng được.

“Tự thanh” là tự mình cất lên âm thanh/tiếng kêu/tiếng nói của mình hoặc tự mình làm trong sạch mình, đều không sai. Nghe giải thích vậy, nhưng cá nhân tôi lại muốn nghiêng về một cách hiểu gộp: “thanh” là tiếng nói, tiếng kêu, mà “thanh” cũng là trong, nên “Tự thanh” là tiếng kêu trong, lời trong. Và, ở đây, như tập thơ “Tự thanh 4” mà tôi đã đọc, đó là lời trong của một người đang ở quê mà vẫn thiết tha, đau đớn buồn mỗi khi lặng ngắm quê, nhớ và nghĩ về quê, quê cụ thể và quê như một ý niệm.

hai-thanh-vanvn.jpg -0
Nhà thơ Hải Thanh.

Trong tập “Tự thanh 4” có một bài thơ mang nhan đề “Tôi là một người quê”, với đoạn mở đầu: “Tôi là một người quê/ Thì khi nào đã tỉnh?/ Tôi chỉ hỏi một câu này/ Nhỏ nhẹ/ Một câu thôi/ Kẻ thù nào đã bắn vào làng tôi?/ Đá vô tri cũng còn đầy nước mắt”. Chưa vội bàn hay dở, nhưng ở đoạn thơ mở đầu này có một điều thú vị: cái chữ “quê” đối nghĩa với chữ “tỉnh”, mà nếu thay nó bằng chữ “say” thì có khi còn hay hơn: “Tôi là một người say/ Thì khi nào đã tỉnh?/ Tôi chỉ hỏi một câu này...”. Nhưng, dẫu thế nào, “quê” hay “say” thì cũng vẫn cứ một niềm đau đáu: “Làng tôi bao phen tan nát/ Hạnh phúc nào/ Thiên đường nào/ Vẫn xương thịt quê hương?/ Những giấc mơ hãy còn rỉ máu/ Không có chuyện người nông dân sớm mai ra ngõ bắt được vàng/ Nên cả đời tôi mê mải kiếm tiền/ Nhiều tiền quá lòng tham không dừng lại”.

Người quê có thể ra tỉnh thành sinh sống, làm ăn, lập nghiệp và gửi nhớ thương về chốn quê. Điều ấy đã từng là thực tế khá phổ biến, cả trong đời và trong thơ, mà ví dụ sáng giá nhất chính là một phần lớn tác phẩm trong gia tài thơ Nguyễn Bính. Nhưng, người quê trong tập “Tự thanh 4” của nhà thơ Hải Thanh, nhắc lại lần nữa, là một người đang ở quê. Đang ở quê mà vẫn buồn nhớ về quê, nói đúng hơn, buồn nhớ về cái không gian làng của mình, trong quá khứ, trong hiện tại, trong tâm tưởng và trong thực cảnh nhãn tiền. Người quê ấy, chủ thể trữ tình xưng Tôi, nhân vật xuyên suốt toàn bộ tập thơ tựa như một miếng bọt biển, hút thấm vào mình mọi biến động đã và đang xảy ra trong đời sống của làng quê.

Thời mới, kinh tế thị trường và hội nhập, công nghệ 4.0, đất ruộng chuyển đổi mục đích sử dụng, phân lô bán nền hoặc được tách ra xây dựng các khu chế xuất, bê tông hóa đến từng ngóc ngách đường làng ngõ xóm, rồi người ở lại và người rời làng làm ăn nơi khác v.v... - những điều này ta hoàn toàn có thể hình dung được - thì “chất làng” đương nhiên phải nhạt đi. Tất cả những thay đổi khiến cái “chất làng” phải nhạt đi ấy đã vào thơ Hải Thanh, nhiều khi như một nhận thức đầy những ngỡ ngàng:

Năm nay trời đã sang trang/ Nước mưa đã nhạt, đất làng đã phai/ Hoa hồng mới nở sớm mai/ Lòng người đã nảy chông gai lạnh lùng” (Làng mới). Rồi: “Bóng hạc nghiêng chao thấp thoáng/ Nói những gì nơi quán lẩu dưới trời khuya/ Nụ cười trong này, nước mắt ngoài kia/ Ăn miếng cá thấy dòng sông chảy máu” (Ăn cơm với cá). Và rồi: “Những cuộc mưu sinh nườm nượp bước chân người/ Ở chốn phồn hoa nhiều mây nõn/ Ai tơ tưởng những mùa vui bất tận/ Ai nỗi niềm hàn gắn sự chia tan... Người đi rỗng làng/ Người về loãng phố/ Câu ca mới, bài hát cũ/ Người bỏ cánh đồng, quê ở với ai?” (Vân vi mùa dịch).

Nhưng, chưa hết đâu, cái sự thay đổi làm phai đi “chất làng” nhiều nhất mà chủ thể trữ tình xưng Tôi trong “Tự thanh 4” nhận thấy còn nằm ở những câu thơ xót xa này: “Mẹ ơi, chiều qua có con cò bay từ Đồng Đậu/ Mang lời ru gieo xuống cánh đồng/ Mẹ ơi, chiều nay có thêm con cò bằng bê tông dang cánh/ Giữa thửa ruộng nhà mình/ Nhưng nó chỉ đứng yên một chỗ/ Gió rất nhiều/ Nhưng không thể bay lên... Trong tầm tã đầy vơi/ Vẫn liêu xiêu dáng mẹ/ Mẹ bơ vơ trên thửa ruộng nhà mình/ Thửa ruộng bơ vơ trên cánh đồng làng mình/ Mẹ và những thân cò như mất tổ/ Ngoài kia/ Cửa làng rộng mở/ Người làng cứ lũ lượt ra đi/ Tháng tháng năm năm/ Khói trắng lại bay về/ Con cò không có bờ tre/ Nó bơ vơ tiếng mẹ” (Cánh cò chiều).

Ta thấy gì đây? Bê tông hóa nhân danh sự phát triển, thuốc bảo vệ thực vật nhân danh sự tăng trưởng, bỏ cánh đồng và việc nông trang nhân danh cuộc mưu sinh khắc nghiệt đã khiến bầu sinh quyển tự nhiên vốn dĩ của không gian làng bị tổn hại nghiêm trọng. Làng không còn là làng như nguyên bản nghìn năm nữa. Còn chăng, như một thứ gia tài được di truyền, chính là nỗi vất vả cực nhọc, là cái “phận đàn bà” đến lắm éo le của những người phụ nữ ở làng.

Người quê trong thơ Hải Thanh kể: “Đàn bà làng tôi/ Nhàu như câu chuyện cũ/ Những nỗi niềm chưa rõ họ tên/ Gửi vào lời ru đỡ lạnh/ Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần... Lấp lóa tháng ngày xanh/ Những người đàn bà của làng khăn gói ra đi/ Vội vàng như trốn vã/ Sau buốt giá/ Những đồng tiền sấp ngửa/ Có những đứa con mang họ mẹ/ Những xa xôi không hẹn ngày về” (Nỗi niềm hạt thóc).

Tuy nhiên, không phải bao giờ lời trong của người quê trong thơ Hải Thanh cũng toàn những buồn đau rưng rức đến thế, như thế. Nhiều khi nó chỉ là một nỗi buồn thoảng nhẹ, một niềm u hoài xao xuyến của kẻ lắm tơ vương với chốn xưa, cõi xưa, với trời trăng mây nước: “Ngơ ngẩn đường dâu về bãi mía/ Ai người trông lại nỗi mong ai/ Nghe đâu ồn ã ngày đương chợ/ Bông lúa lưng còng buổi sớm mai/ Miếu văn thuở ấy giờ đâu nhỉ/ Thành cổ u hoài theo gió mưa/ Phố đã chen chân vào mộng mị/ Một ánh trăng non lạc đáy hồ” (Chiều phủ Vĩnh). Và nữa: “Nhà máy dập dìu, sông Cánh còn tươi/ Đất Hương Canh mùa này như thiếu nước/ Những lò gốm từ lâu thôi rạo rực/ Bước người đi xa lắc đã ai về?/ Trên chuyến tàu thế kỷ cuối rặng tre/ Ga Hương Canh vẫn là ga thuở trước/ Lấp lóa những con đường thân thuộc/ Có ai buồn mua vại giữa đêm mưa?” (Ký ức ga Hương Canh).

Có thể nói, những địa danh trên đất cổ Vĩnh Phúc như phủ Vĩnh, Vĩnh Yên, Kim Long, ga Hương Canh, núi Đinh v.v... khi vào thơ Hải Thanh thì đều không chỉ là những địa danh đơn thuần, mà chúng đã là những cái tên, những ký hiệu chuyên chở âm vọng và hình ảnh dày dặn của quá vãng, chúng đặt ngày xưa với ngày nay vào một sự tương liên đủ để làm bật ra những câu thơ giàu sức gợi. Với cá nhân tôi, những câu như: “Phố đã chen chân vào mộng mị/ Một ánh trăng non lạc đáy hồ”, “Ngoài kia trăng vỡ như trêu chọc/ Gió thoảng qua cây lại ướt thềm”, hay: “Lấp lóa những con đường thân thuộc/ Có ai buồn mua vại giữa đêm mưa”, là những câu thơ như thế.

tác ph%3fm c%3fa nhà tho h%3fi thanh.jpg -1
Tác phẩm của nhà thơ Hải Thanh.

Nhà thơ Hải Thanh từng bộc bạch: “Suốt năm tháng dài, tôi cũng chỉ quẩn quanh ở làng. Trong không gian nhỏ hẹp ấy tôi luôn tự nhủ: đi đến tận cùng của làng này sẽ bước sang làng khác”. Nếu ta nhớ rằng ở các công trình nghiên cứu có tính chất kinh điển về làng xã và văn hóa làng xã Việt Nam của các học giả bậc thầy như Từ Chi, Nguyễn Hồng Phong, Phan Ngọc, Trần Đình Hượu v.v... thì làng chính là cái lõi của nước/quốc gia. Nước Việt Nam trong quá khứ chẳng qua là một tập hợp khổng lồ của những cái làng, những cái làng nối những cái làng.

Nên khi Hải Thanh nói ông đi đến tận cùng làng này để bước sang làng khác thì tức là cái kiến văn và sự tri nhận ấy đã đặt trong không gian của nước. Và, người quê trong thơ Hải Thanh đã tư duy về những vấn đề vượt quá tầm hạn hẹp của cái làng mình. Đây có lẽ chính là cơ sở để Hải Thanh có những câu, những bài thơ tưởng như “lạc quẻ” trong tập “Tự thanh 4”: “Những người mẹ của ta ơi/ Ai gọi đới?/ Người cười rạng như có ai nhớ đến mình/ Không nghe gì bão tố, không thấm gì lầm than/ Không kể chi bần hàn, không ngại gì đánh giặc/ Cứ cần mẫn gieo trồng trên cánh đồng nhiều thất bát/ Rồi, đội một mái đầu bạc/ Sống một miền cô đơn/ Người chỉ tự nhận mình/ Có đẻ ra người thật/ Nhưng tuyền là vong thân” (Những người mẹ).

Thơ Hải Thanh, có thể thấy qua tập “Tự thanh 4”, chưa phải thơ nghiêng về tìm kiếm những con đường độc đạo của sự cách tân, nhưng cũng không còn là thơ với tư cách sản phẩm của kiểu tư duy thơ truyền thống, cũ mòn. Dẫu sao chăng nữa, điểm khả thủ của thơ Hải Thanh không phải chỗ cũ hay mới, mà ở chỗ: nó là tiếng trong - chân thành và có tính khái quát, triết lý cao; buồn bã mà đôi khi vẫn thấp thoáng nét “uy-mua” - của một người quê về làng mình, về nước mình, về đời sống đương đại và những xoay vần không ngưng nghỉ của thời cuộc. Thơ của một người biết và cảm nhận rất bình thản những điều đang đợi tất cả chúng ta ở phía chân trời: “Đi thăm những nấm mộ/ Mới biết mình đang sống/ Hỏi: chúng tôi đang sống như thế nào?/ Những ngôi mộ đều trả lời: đang chết” (Thời đại).

Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).