Từ bến sông Mang, ngẫm về đạo làm Tướng

Không có mấy người để lại những suy nghĩ và cảm xúc trái chiều cho hậu thế nhiều như danh tướng Trần Khánh Dư (1255-1340). Không chỉ lẫy lừng võ công, ông còn được biết đến với mối duyên tình ngang trái cùng Thiên Thụy công chúa (vợ của Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn) và cả những thói tật tham lam, bỉ lậu.

Độc đáo sông Mang và trận hải chiến vang dội trong lịch sử quân sự Việt Nam

Sông Mang thực ra là một lạch biển, nằm giữa một bên là cụm đảo Quan Lạn, Ba Mùn ở phía Đông Nam, một bên là cụm đảo Trà Bàn, Trà Ngọ ở phía Tây Bắc. Toàn bộ các cụm đảo này lại nằm trong vịnh Bái Tử Long, thuộc huyện đảo Vân Đồn.

Vì là một lạch biển, sông Mang không có thượng nguồn và hạ du, không có chiều của dòng chảy. Con nước lớn ròng tùy thuộc vào thủy triều lên xuống. Mùa Xuân năm Mậu Tý (tháng 2-1288), trên sông Mang đã diễn ra trận hải chiến lẫy lừng mà lịch sử quen gọi là chiến thắng Vân tiêu diệt toàn bộ đoàn thuyền vận lương của quân Nguyên xâm lược.

Mùa Xuân năm 1287, Hoàng đế Hốt Tất Liệt nhà Nguyên đã quyết định phái binh xâm lược Đại Việt lần thứ 3. Đạo quân viễn chinh lần này do Thoát Hoan  làm Tổng Tư lệnh. Việc vận chuyển quân lương hộ chiến được giao cho Vạn hộ hầu Trương Văn Hổ và các Phó tướng Phí Củng Thìn, Từ Khánh phụ trách.

Tháng 12-1287, quân Nguyên chia làm 2 đạo thủy bộ tiến đánh Đại Việt. Đạo quân bộ do Thoát Hoan soái lĩnh, chia làm 2 hướng đồng thời tiến công phá vỡ các tuyến phòng thủ từ xa của Đại Việt và nhanh chóng áp sát vây hãm kinh thành Thăng Long. Đạo quân thủy do Ô Mã Nhi cầm đầu, có nhiệm vụ mở đường cho các đoàn thuyền lương theo sau.

Cổng đền thờ Trần Khánh Dư trên đảo Quan lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
Cổng đền thờ Trần Khánh Dư trên đảo Quan lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

Trần Khánh Dư được giao trấn giữ ở cửa biển Vân Đồn, đã không ngăn nổi các chiến thuyền của quân Nguyên. Ô Mã Nhi đã nhanh chóng tiến sâu vào nội địa để hội binh với Thoát Hoan. Thượng hoàng Trần Thánh Tông sai trung sứ mang chiếu đến triệu Trần Khánh Dư về kinh hạch tội. Trần Khánh Dư khảng khái: “Lấy quân luật mà xử, tôi xin chịu tội. Nhưng xin hoãn cho vài ba ngày, để tôi lập công chuộc tội, rồi sẽ chịu búa rìu cũng chưa muộn”. Trung sứ không biết làm thế nào, đành ưng thuận.

Tháng 2-1288, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ kéo đến Vân Đồn, Trần Khánh Dư tung quân tập kích bất ngờ. Cuộc chiến diễn ra ác liệt, kéo dài từ sông Mang đến tận cửa Lục (một vịnh nhỏ gần thành phố Hạ Long ngày nay).

Không có quân hộ tống, Trương Văn Hổ đại bại, bỏ chạy về Quỳnh Châu (Quảng Đông ngày nay). Các đoàn thuyền lương do Phí Củng Thìn và Từ Khánh chỉ huy đi sau hoặc bị bão, hoặc bị lạc cũng không đến được Đại Việt. Không có nguồn tiếp tế quân lương, Thoát Hoan đã buộc phải bỏ dở việc vây hãm thành Thăng Long, rút về Vạn Kiếp rồi tìm đường về nước và bị chặn đánh tan tác tại cửa biển Bạch Đằng (tháng 4-1288).

Thắng lợi của thế trận lòng dân và công tác tình báo

Vân Đồn có hơn 600 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, như một cánh cung ôm trọn vịnh Bái Tử Long, tạo nên một bức trường thành tự nhiên án ngữ toàn bộ vùng biển phía Đông Bắc của Tổ quốc. Từ xa xưa, trên các đảo của Vân Đồn đã có người sinh sống. Đến năm 980, nhà Tiền Lê đã lập đồn binh án ngữ trên biển ở núi Vân (nay thuộc thôn Vân, xã Quan Lạn).

Tên gọi “Vân Đồn” cũng bắt nguồn từ đó. Năm 1149, vua Lý Anh Tông chính thức lập trang Vân Đồn, biến nơi đây thành một thương cảng quốc tế, cửa ngõ trao đổi hàng hóa với Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan và Indonesia. Thương cảng Vân Đồn phát triển sầm uất trải 3 triều đại Lý, Trần và Hậu Lê.

Vân Đồn đã là địa bàn sinh sống của nhiều thành phần tộc người khác nhau. Ngoài bộ phận người Kinh được triều đình phái tới khai khẩn, buôn bán và trấn giữ biển đảo, còn có một bộ phận không nhỏ thần dân nhà Tống lánh nạn giặc Nguyên phiêu dạt đến.

Một bộ phận người Hắc Cá (Khách gia) cũng đến Vân Đồn lập nghiệp từ rất sớm. Con cháu họ đến nay vẫn sinh sống ở các đảo trong huyện nhưng đã hòa huyết với người Kinh bản địa. Tất cả các cộng đồng dân cư ở đây đều có mối thù không đội trời chung với giặc Nguyên Mông. Họ cùng hưởng ứng chính sách “ngụ binh ư nông” của nhà Trần.

Khi Trần Khánh Dư lựa chọn sông Mang làm chiến trường chính, các dân binh đảo Quan Lạn dưới sự chỉ huy của 3 anh em tướng quân họ Phạm (Phạm Công Chính, Phạm Thuần Dụng và Phạm Quý Công) đã nhiệt tình tham chiến. Nhờ có các dân binh gốc gác nghề chài lưới thông thạo luồng lạch, thủy triều chỉ dẫn, Trần Khánh Dư đã làm chủ thế trận và giành thắng lợi vang dội. Cả 3 anh em tướng quân họ Phạm đều anh dũng hy sinh, được vua Trần truy phong tước hiệu, được nhân dân trên đảo lập đến thờ, quanh năm hương khói cho đến tận ngày nay.

Là một thương cảng quốc tế, Vân Đồn có nhiều khách thương đến từ nhiều nước khác nhau. Trần Khánh Dư là người quảng giao, khoáng đạt. Ông có quan hệ rộng rãi với nhiều thương lái và kết thân với cả các hiệp khách giang hồ.

Thông qua các mối quan hệ đó, ông thu thập được nhiều tin tức tình báo. Ông biết Ô Mã Nhi là viên tướng có nhiều chiến tích, được vua Nguyên sủng ái, nhưng cũng là kẻ kiêu căng, tự phụ. Ông cũng biết Trương Văn Hổ vốn dĩ chỉ là một cướp biển hàng phục và được vua Nguyên trọng dụng. Y không có tài thao lược, quân sỹ thuộc quyền hết sức ô hợp.

Vì thế, sau khi không chặn được đạo thủy quân tiên phong của Ô Mã Nhi, ông quyết định bày trận đón lõng đoàn thuyền vận lương. Chính những tin tức tình báo đã giúp Trần Khánh Dư phán đoán chính xác tình hình và đưa ra quyết sách đúng đắn, kịp thời.

Ngẫm về đạo làm tướng

Sinh thời, Trần Khánh Dư được biết đến là một người tài kiêm văn võ. Ông từng có công bình Man, được vua Trần nhận làm Thiên tử nghĩa nam, tước Nhân Huệ Vương, hàm Phiêu Kỵ Đại tướng quân. Kết thúc cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên lần thứ 3, khi bình công, ông được xếp hàng thứ 4, chỉ sau Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật và Phạm Ngũ Lão. Sau này, ông cũng chính là người viết lời tựa cho cuốn sách “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” - một cuốn sách về nghệ thuật quân sự nổi tiếng của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Lời văn của ông khúc chiết, thâm sâu, thể hiện sở học phi phàm.

Toàn cảnh đền thờ Trần Khánh Dư trên đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
Toàn cảnh đền thờ Trần Khánh Dư trên đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.

Trần Khánh Dư còn là người có tài kinh bang tế thế. Ngay trong thời gian làm Tướng, ông cũng không từ bỏ công việc kinh doanh. Ông là vị quý tộc duy nhất của nhà Trần không cam chịu sống dựa vào bổng lộc của triều đình hay lợi tức do thái ấp mang lại.

Khi được vua Trần cho về trí sĩ tại lộ Lý Nhân (tỉnh Hà Nam), ông còn cho gia tướng đi khai khẩn lập làng ở một số vùng phụ cận, nay thuộc về các xã Yên Nhân và Yên Đồng (huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Trong những ngày đầu lập nghiệp, nhiều người dân được ông bỏ tiền giúp vốn. Ông cũng chính là người hướng dẫn dân làng Tịch Nhi (xã Yên Nhân) trồng cói và làm nghề dệt chiếu.

Nhưng mặt khác, Trần Khánh Dư cũng để lại nhiều tai tiếng. Thời trẻ, ông vướng vào vụ trọng án thông dâm với Thiên Thụy công chúa, là người được Thượng hoàng Trần Thánh Tông chỉ hôn cho Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn (con trai cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn). Vì tội này, ông bị xử tội chết, nhưng vua Trần Thánh Tông tiếc tài cầm quân, ngầm hạ lệnh cho lính đánh chúc đầu gông, nhờ vậy ông thoát chết, chỉ bị phế truất binh quyền, tịch thu gia sản và đuổi về quê (vùng Chí Linh, Hải Dương ngày nay).

Nhờ có sự bao dung của các vua Trần và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, ông mới có cơ hội thể hiện tài thao lược. Đáng ra, ông phải là người thấm nhuần hơn ai hết quan điểm của Trần Quốc Tuấn “Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”. Tiếc là ông đã không làm được điều đó.

Cho dù vậy, lòng dân luôn bao dung. Sau khi mất, Trần Khánh Dư vẫn được người dân ở nhiều địa phương ghi ơn lập đền thờ, tưởng nhớ công trạng. Ngay trên đảo Quan Lạn, ngôi đền thờ Trần Khánh Dư cũng mới được trùng tu khang trang...

TS. Mai Thanh Sơn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).