Từ “Ballet Kiều”, mơ về ballet thuần Việt

Sau bao ngày chờ đợi và hoãn bởi dịch COVID -19, vở “Ballet Kiều” chính thức ra mắt vào đêm 20-6 tại TP Hồ Chí Minh. Khỏi phải nói, công chúng hào hứng đón chờ như thế nào trước vở ballet đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, đưa kiệt tác phương Đông của Đại thi hào Nguyễn Du đến với bạn bè quốc tế bằng ngôn ngữ múa bác học phương Tây.

Với giá trị vượt thời gian, “Truyện Kiều” là nguồn cảm hứng bất tận cho rất nhiều loại hình nghệ thuật chuyển thể. Có thể nói, năm 2019 và 2020, các tác phẩm chuyển thể nở rộ và liên tiếp trình làng nhiều đến vậy. “Truyện Kiều” xuất hiện trong kịch rối, kịch nói, múa đương đại, kịch thể nghiệm... Hiện dự án điện ảnh “Kiều” cũng đang trong quá trình tuyển chọn diễn viên để kịp bấm máy trong năm nay.

Với ballet, khán giả từng rất háo hức khi năm 2007, NSND Nguyễn Công Nhạc, biên đạo múa Nguyễn Việt công bố dự án với tên gọi “Thúy Kiều”. Bởi nói như NSND Hà Thế Dũng, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ múa TP Hồ Chí Minh, ballet là thể loại múa khó và quy mô nhất, đòi hỏi các kỹ thuật biểu diễn điêu luyện, tinh tế, tập trung nhiều yếu tố nghệ thuật cao. Lâu nay, chúng ta chỉ diễn lại các vở ballet kinh điển của thế giới như “Kẹp hạt dẻ”, “Hồ thiên nga”, “Cô bé Lọ lem”, “Giselle”, “Carmen”... chứ rất hiếm vở thuần Việt.

Do đó, dự án “Thúy Kiều” được giới chuyên môn lẫn người yêu ballet hết lòng ủng hộ. Đáng buồn thay, vì gặp nhiều vướng mắc, khó khăn nên vở không thực hiện được. Đến nay, chúng ta mới có một vở ballet đầu tiên chuyển thể từ “Truyện Kiều” như một lời đền đáp cho sự dở dang ngày ấy.

Biên đạo múa Tuyết Minh.
Biên đạo múa Tuyết Minh.

“Ballet Kiều” là công trình nghệ thuật lớn thuộc chương trình hành động của Hội Nghệ sĩ múa Việt Nam trong năm 2020, ấp ủ những sáng tạo nghệ thuật mới mẻ dựa trên nền tảng kỹ thuật ballet hiện đại chuẩn mực. Tác phẩm do nghệ sĩ Tuyết Minh chuyển thể kịch bản, tổng đạo diễn và kiêm biên đạo múa cùng biên đạo Nguyễn Phúc Hùng.

Đây là một trong hai kịch bản xuất sắc nhất mà Hội đồng Nghệ thuật Hội Nghệ sĩ múa Việt Nam tuyển chọn trong cuộc vận động sáng tác kịch bản kịch múa năm 2019 nhằm nâng cao chất lượng nghệ thuật múa chuyên nghiệp Việt Nam.

 Vở được giao cho Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ Kịch TP Hồ Chí Minh dàn dựng và công diễn với sự tham gia của đội ngũ diễn viên trẻ trung,  tài năng như NSƯT Trần Hoàng Yến (vai Thúy Kiều), NSƯT Hồ Phi Điệp (vai Từ Hải), NSƯT Đàm Đức Nhuận (Kim Trọng), Đỗ Hoàng Khang Ninh (Thúy Vân), Phan Thái Bình (Sở Khanh)...

Nhiều người thắc mắc danh tác giàu chất thơ và đẫm triết lý như “Truyện Kiều” sẽ như thế nào trong hình hài một vở ballet- loại hình múa bác học kinh điển của phương Tây? Nghệ sĩ Tuyết Minh cho hay với tâm niệm gửi lòng tri âm của hậu thế tôn kính trước anh linh của Đại thi hào Nguyễn Du nên ngay từ khi đặt bút chuyển thể sang kịch bản múa, chị đã đặt mình trong sự tiếp nhận văn học hiện đại mà chủ động làm giàu hơn cho tác phẩm này với tâm thế của tác giả thứ hai đồng sáng tạo.

Thách thức lớn nhất đối với chị chính là phải hòa hợp ballet phương Tây với phong cách múa dân gian, múa truyền thống và văn hóa phương Đông đậm bản sắc Việt. “Khi chọn ballet để dàn dựng trước hết phải hình thành phong cách xuyên suốt của kết cấu ngôn ngữ múa, khi mà diễn viên nữ phải thể hiện trên giày mũi cứng, và diễn viên nam phải thể hiện được những kỹ thuật nền tảng của cổ điển châu Âu, có nghĩa tiêu chí kỹ thuật, kỹ xảo phải đạt được niêm luật của bộ môn múa ballet.

Mặt khác để thể hiện được tâm hồn Việt, khắc họa được những nét tính cách nhân vật điển hình thì các diễn viên phải thấm đẫm văn hóa phương Đông, cốt cách, tinh thần và bản sắc văn hóa của người Việt. Do vậy mỗi cử chỉ, động tác hay tổ hợp múa đều phải chắt lọc, đều phải có thủ pháp mang tính sáng tạo cao thì mới đủ chuyển tải hết tinh, khí, thần của các lớp diễn” – nghệ sĩ Tuyết Minh chia sẻ.

Nghệ sĩ Tuyết Minh và biên đạo Nguyễn Phúc Hùng không kể hết 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều như trong bản gốc. Bởi làm như thế sẽ khiến vở lê thê, dài dòng kể chuyện. Các biên đạo chú trọng xoáy sâu giá trị “Đạo làm Người” mà Nguyễn Du truyền tải trong “Kiều” qua ba lần Kiều gặp hồn ma Đạm Tiên và diễn tiến của toàn bộ vở diễn được ước lệ xoay quanh bốn lần Kiều đánh đàn bởi tiếng đàn không thể nào che giấu được nỗi niềm. Đó là những cảm xúc, tâm trạng của Kiều và những triết lý phương Đông sâu sắc về bản thể con người.

Vở gồm 3 hồi, 15 cảnh với những sắc thái tâm lý khác nhau, lúc thăng hoa, nhẹ nhàng, lúc giằng xé, cô đơn, đau đớn. Thân phận người phụ nữ xưa, những hỉ nộ ái ố của kiếp nhân sinh, hành trình đi tìm tự do hạnh phúc và những khao khát công bằng được khắc họa trong từng động tác cơ thể khiến người xem trăn trở khôn nguôi.

Không chỉ hòa trộn nhuần nhuyễn các thủ pháp, kỹ thuật của múa ballet kinh điển châu Âu với múa truyền thống Việt Nam mà “Ballet Kiều” còn là sự kết hợp rất ăn ý giữa Âu và Á ở khâu trang phục, âm nhạc, đạo cụ, cảnh trí... Các nhân vật thăng hoa trong chiếc áo tứ thân, áo yếm, áo the cách điệu khoe đôi chân của vũ công, bay bổng trong những manh chiếu cói, chiếc thuyền, cây đàn nguyệt... dưới nghệ thuật thị giác đương đại hologame.

Âm nhạc do nhạc sĩ Việt Anh và Chinh Ba đảm nhiệm. Âm nhạc của nhạc sĩ Việt Anh mang âm hưởng châu Âu đa tầng, đa diện, có phong cách hòa thanh hiện đại, mới mẻ để dùng trong những đại cảnh và diễn tả nội tâm.

Cảnh trong vở “Ballet Kiều”.
Cảnh trong vở “Ballet Kiều”.

Trong khi đó Chinh Ba gây ấn tượng mạnh với những âm thanh vocal hòa trộn với âm điệu truyền thống. Nó xuất hiện tại những phân khúc kịch tính, dữ dội. Mỗi nhạc sĩ một phong cách khác nhau đã tạo nên sự kết hợp ấn tượng giữa âm nhạc phong cách semi classic với âm điệu dân gian, dân tộc của Việt Nam.

Đây không phải là lần đầu NSƯT Trần Hoàng Yến đảm nhận vai Thúy Kiều. Trước đó, cô đã hóa thân thành nhân vật này trong vở múa đương đại “Kiều” của biên đạo người Hàn Quốc Yoo Oh Chun. Thế nhưng, cô vẫn rất lo lắng khi tái hiện lại hình ảnh Kiều trên đôi giày mũi cứng.

“Thúy Kiều là một nhân vật lớn nên mỗi lần đảm nhiệm vai này tôi lại thấy vừa vinh dự nhưng cũng vừa áp lực. Nó đòi hỏi mình phải cố gắng rất nhiều. Ở “Ballet Kiều”, tôi phải thay đổi tâm lý nhân vật rất nhanh sau mỗi phân cảnh. Càng tập tôi càng thấu hiểu tâm trạng của nàng Kiều trước giông bão số phận. Nó giúp tôi nắm bắt nhanh hơn tâm lý nhân vật để dễ dàng nhập vai” – Hoàng Yến tâm sự.

Một điểm thú vị của “Ballet Kiều” chính là chàng nghệ sĩ người Mông Sùng A Lùng. Anh được Tuyết Minh chọn mặt gửi vàng để đảm nhiệm cùng lúc hai vai có tạo hình và tính cách hoàn toàn trái ngược là Tú Bà và ông lão dẫn chuyện.

Tuyết Minh giải thích: “Tú Bà là một nhân vật có sức nặng cá tính mà tôi nghĩ một người phụ nữ chưa chắc thể hiện được trong vở diễn này. Phải là một người đàn ông như Lùng, vẽ lên mặt những nét cá tính ấy mới thể hiện ra bản chất ghê gớm của người chuyên buôn bán thân xác phụ nữ. Tôi chọn Lùng đảm nhiệm hai vai để Lùng bung tỏa hết tiềm năng vì tôi đánh giá rất cao Lùng mỗi khi xem cậu ấy múa”.

Sau buổi biểu diễn tại TP Hồ Chí Minh, “Ballet Kiều” sẽ đến với khán giả Hà Nội vào ngày 14-8 tại Nhà hát Lớn. Đây là tác phẩm được kỳ vọng có tầm vóc lớn về giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của Việt Nam trong dòng chảy nghệ thuật mạnh mẽ của nghệ thuật đương đại. Tác phẩm mang khát vọng chuyển tải những tinh hoa của văn hóa Việt Nam, những đặc trưng truyền thống và những tư tưởng Á Đông sâu sắc. Do đó, “Ballet Kiều” cũng được xem là cú hích mở đầu mạnh mẽ cho các vở ballet thuần Việt. Nó giúp những khán giả bình dân có thể tiếp cận và yêu thích thể loại múa hàn lâm bằng những câu chuyện, chất liệu đậm tinh thần dân tộc.

Đồng thời, đó cũng là cách để chuyên chở giá trị di sản ngàn năm của cha ông ra biển lớn, hãnh diện đến với bạn bè năm châu. Bởi như nghệ sĩ Tuyết Minh phân tích: “Đối với khán giả nước ngoài, họ đã quá quen với sự hoành tráng, xa hoa, chuẩn mực của các vở ballet kinh điển nên tôi nghĩ họ sẽ muốn xem ballet Việt Nam có điều gì khác biệt.

Và tôi tin họ sẽ có nhiều thứ để thưởng thức từ âm nhạc, từ phong cách múa, từ trang phục, từ văn hóa Á Đông với cách tư duy và chiều sâu tâm hồn riêng có. Rồi họ sẽ thấy đồng cảm vì chất nhân văn, tinh thần nhân đạo là cầu nối từ trái tim đến trái tim không phân biệt Âu, Á, không phân biệt màu da, tôn giáo”.

Mai Quỳnh Nga

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).