Truyện Nôm - Những tấm thảm ngôi từ!

Có thể ví thế giới truyện Nôm khuyết danh như những tấm thảm ngôn từ được thêu dệt bằng thứ nghệ thuật của chính cuộc sống lao động khỏe khoắn, tươi ròng chất đời và phơi phới tinh thần lạc quan. Nhìn vào đó ta sẽ thấy bóng dáng hôm qua.

Hầu như nhân vật truyện Nôm nào khi đối thoại cũng có cách nói đậm chất văn, nhưng không mòn sáo bởi rất phù hợp với hoàn cảnh, không khí và đối tượng miêu tả. Nhân vật mẹ Cám tâm địa ác độc thế mà cũng có lối “mỉa” thật sinh động: “Chuông khánh còn chẳng ăn ai/ Nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre” (Tấm Cám). Nhân vật chuột Cái (Trinh thử) trong cơn ghen tức tối vẫn “tỉnh táo” mà trách cứ chuột Đực bằng ẩn dụ của thơ: “Cớ chi thiếp mới vắng nhà/ Đã lòng dử nguyệt quyến hoa tơi bời…”. Mấy chữ “dử nguyệt, quyến hoa” thật đúng với anh chàng “chồng” lẳng lơ này.

Phần lớn nhân vật (trong “Trinh thử”, “Trê Cóc”, “Chàng Chuối”, “Lục súc tranh công”…) là các con vật nên có thể gọi đó là các truyện ngụ ngôn viết bằng thơ. Đây sẽ là một đề tài nghiên cứu ý nghĩa khi khảo sát tập quán và tính biểu trưng của từng loài vật rồi tổng hợp, khái quát để từ đó có thể mô tả được bức tranh và quan niệm sống của người xưa. Nào là những cá, chim, tép, tôm, sứa, hùm, rắn, gà, ếch, nhái, bén, đỉa, ba ba… Có cả những con vật không có thật, như rồng, trằn tinh, yêu tinh, yêu quái, ma, quỷ… Đó là những ẩn dụ vừa giàu giá trị tượng hình vừa đậm tính biểu cảm để gửi gắm một ý nghĩa thường là mang tính giáo huấn, giáo dục, răn dạy…

Nếu coi mỗi tác phẩm văn học là mô hình mới về cuộc sống thì mỗi truyện đã sáng tạo ra một mô hình thế giới mới khá sinh động, vừa thoát thai từ cuộc sống nhưng cũng độc lập với cuộc sống hiện thực. Đây là một phong tục hỏi vợ của Thuỷ Tinh (Chàng Chuối) khi đến “nhà gái” vua Hùng hỏi Mỵ Nương làm vợ. Về đồ lễ, thì: “Xà cừ mã não, san hô/ Hạt trai ba vạn, ngọc lô năm nghìn/ Xuyến vàng chất để đầy nêm/ Đồi mồi, hổ phách đặt trên đùn đùn…”. 

Vui nhất là đoàn rước lễ: “Trước thì trống phách rập rình/ Chiên Lăng đeo nhẫn, Côn, Kình đeo hoa/ Tôm thì tay gióng mã la/ Chuối, Mè mớ bảy mớ ba tưng bừng/ Giữa thì Trắm đánh trống quân/ Ba ba thì kéo song vần cò ke/ Ếch thì kèn thổi lo loe/ Đòng đong, Cân cấn tì toè mớ năm/ Ốc thì mặc áo dài thâm/ Chân đi giày khách, tay cầm quạt Ngô/ Chày, Trôi, Mương, Ngạnh, Diếc, Rô/ Vóc the là lượt lộn dô ra vào…”. 

Vì là “quân” của Thuỷ Tinh nên “đoàn” rước đều thuộc giống thuỷ sinh, chủ yếu là các loài cá. Ngộ nghĩnh nhất là sự miêu tả gắn liền với đặc trưng hình dáng và tập quán sống của từng loài. Nhân vật nào cũng trong trạng thái động, đầy sinh khí. Để làm bật ra cái ồn ào, nhộn nhịp, vui vẻ của đám rước, những động tính từ láy được sử dụng thật hiệu quả: “rập rình, tưng bừng, lo loe, tì toè, mớ bảy mớ ba, là lượt…”. Các tính từ chỉ âm thanh, màu sắc, các động từ chỉ hoạt động được dùng đúng chỗ càng tăng cường thêm cái vui vẻ xôn xao của sự kiện.

Đám rước lễ của Sơn Tinh, vì có sự tham gia của các loài vật trên cạn nên có phần còn đông vui nhộn nhịp, “hoành tráng” hơn: “Đười ươi khiêng quả bánh chưng/ Đôi con Khỉ độc kim đằng bảo châu/ Hai Vượn gánh quả giầu cau/ Hươu bưng quả bánh, Hầu bầu rượu tăm/ Ngọc, ngà, vàng, bạc kể trăm/ Phò cho đàn Lợn thì cầm theo sau/ Trung quân Ve thổi kèn tàu/ Trống cơm Sư Tử, trống chầu Kỳ Lân…”. Đáng chú ý là trong “lễ vật” của Sơn Tinh thì gần gũi với lễ vật trong phong tục cưới hỏi của người Việt, với “bánh chưng”, “giầu cau”, “bánh”, “rượu”…

Thạch Sanh (Thạch Sanh) xuống cung vua Thuỷ Tề được đón rước theo nghi lễ trang trọng nhất: “Truyền ra chưa kịp dứt lời/ Côn thời đến trước, Kình thời theo sau/ Cá Lăng, cá Vược theo hầu/ Nhởn nhơ là lượt mọi màu khoe tươi/ Cá Chày, cá Chép đua chơi/ Cá Nghê cúi mặt, cá Voi nghiêng mình/ Cá Vàng, cá Bạc tốt lành/ Tôm He cá Mực tranh hành ngược xuôi…”. Vì là cung vua Thuỷ Tề nên phải có cả loài cá ở biển khơi (Côn, Kình, Voi, Lăng, Vược, Mực…) có cả cá nước ngọt (Chép, Chày…).

Tranh minh họa truyện “Tống Trân - Cúc Hoa”.
Tranh minh họa truyện “Tống Trân - Cúc Hoa”.

Trong “Trê Cóc diễn ca” những hình ảnh “công đường” của thời trước được diễn tả sinh động chỉ qua hoạt động của các con vật. Như cảnh “trình diện”: “Mè, Nheo, Trắm, Chép nhảy ra/ Khấn đầu lạy trước quan nha diện trình”; cảnh lo chạy vạy khi thua kiện: “Vợ chồng Trê những ngậm ngùi/ Ra vào phí tổn hết bao cũng đành”; cảnh đi tìm bạn bè mách bảo “thầy cãi”: “Cóc về dạo khắp các nơi/ Qua miền Chẫu Chuộc tới miền Ễnh Ương”… Đúng như cảnh sống thời đó, chỉ khác không phải người mà thay vào đó là hình ảnh những con vật quen thuộc. 

Cóc thắng kiện trở về, cả làng mừng rỡ chia vui: “Tạ từ Cóc trở ra về/ Vợ chồng mừng rỡ đề huề ngổn ngang/ Bước ra khỏi chốn công đường/ Thông Chiên giật lễ, Đề Tôm cướp liền/ Ôm đầu vỗ vễ ngả nghiêng/ Kẻ đòi bầu rượu người xin bao chè…”. Cảnh vui vẻ toại nguyện này thật gần gũi với đời sống con người, các hành động chia vui vừa có cái suồng sã, bỗ bã: “giật lễ”, “cướp liền” vừa có cái “lịch sự” rất “người”: “đòi”, “xin”…  

Truyện Nôm mang sức sống trào tiếu dân gian vui nhộn mà đậm đà tính giáo dục. Ví như chi tiết gây cười Quan Trạng Tống Trân xử vụ “kiện cành đa”. Có anh lái buôn cất “hai trăm bạc” ở cây đa bị mất bèn cắt cành đa mang đến quan kiện. Tống Trân lập mẹo tìm ra thủ phạm là anh xã trưởng, nhân tình của vợ anh lái buôn nọ. 

Đến chuyện nhân vật “Lưỡng quốc trạng nguyên” có hai vợ, vợ đầu người Việt, vợ hai là công chúa nước ngoài, chọn vợ đầu là “cả” thì “chạm” đến “đối ngoại quốc gia”, chọn công chúa thì e không đúng với tình nghĩa. Trạng bèn nảy kế thi nấu cơm, “Mỗi người mỗi vác mía này/ Lĩnh gạo lĩnh nước cùng tầy đem ra”. Hiển nhiên công chúa thua cuộc, vì…chưa bao giờ nấu cơm, huống hồ đun bằng cây mía (phải ăn nước rồi phơi bã cho khô)…

Có rất nhiều lời mỉa đậm sắc thái dân gian. Như nhân vật Mai Cao (Nhị Độ Mai) mỉa cha con Lư Kỷ, Lư Công: “Mới hay vượng khí trướng môn/ Năm lên sáu tuổi sinh con đầu lòng”. Chả là Lư Công nhận Lư Kỷ là cha nuôi trong khi Lư Kỷ chỉ hơn Lư Công sáu tuổi. Lời mỉa nhiều khi được tổ chức theo nguyên tắc bóng bẩy thêm chất hài hước, dí dỏm, người đọc/nghe vẫn hiểu nhưng thấy có gì đó chua chát: “Thuyền son mà đổ bến lầm/ Tai trâu mà gẩy đàn cầm biết chi” (Hoàng Trừu)… “Thuyền son”, một ẩn dụ cho cái tốt đẹp, tài năng nhưng bị nhầm đường nhầm lối thành ra phí hoài. Cũng vậy, nghệ thuật không biết tìm đến người thưởng thức cũng vô nghĩa…

Có rất nhiều lời bình lên án: “Thẹn thay cho kẻ vô nghì/ Khi này dạ Sở lúc kia bụng Tần”; “Hiểm thay chước kẻ gian thần/ Xui nên kẻ Tấn người Tần như không” (Nhị Độ Mai)...

Nhằm sinh động hoá sự vật để đối tượng miêu tả gần với đời thường, giàu có sức sống hơn, truyện Nôm triệt để sử dụng từ láy tạo hình. Miêu tả cái gập ghềnh của đường đi trên núi, dùng từ láy như là biện pháp tối ưu: “Bước cao bước thấp gập ghềnh/ Quăn queo đuôi chuột, chênh vênh tai mèo/ Leo đá quạnh vịn cành cao/ Chim xào xạc lá vượn leo lắt cành” (Nhị Độ Mai). Diễn tả trạng thái một “ngất ngưởng” trên đường làm thơ, cách sử dụng từ láy vừa làm “vui” câu văn vừa phần nào nói được cái “chếnh choáng” say của thi sĩ: “Hề đồng theo bốn năm thằng/ Thơ ninh ních túi, rượu lưng lửng bầu”. Tạo ra không khí tươi vui nhộn nhịp không thể không dùng từ láy: “Trong nhà nhộn nhịp tưng bừng/ Ầm ầm thiều nhạc, lẫy lừng tiệc hoa” (Nhị Độ Mai)...

Cái gốc của lời văn truyện Nôm là tục ngữ, thành ngữ, ca dao... Như trong “Trê Cóc diễn ca”, khi Trê tự nhủ: “Bắt về yêu dấu bù trì/ Con nuôi cũng chẳng khác gì con sinh” thì câu sau nguyên là một thành ngữ. Trê mỉa mai Cóc: “Một ngày lạ giống chúng bay/ Nghề bôi vôi vẫn nồng thay chẳng chừa” là thoát ra từ tục ngữ: “Lăn lóc như cóc bôi vôi”. Cóc mỉa Trê: “Rằng: khôn ngươi cũng ở ao tù/ Ta đây dẫu có hèn ngu/ Nhà tao cũng có cơ đồ đình đang/ Ra vào gác tía nhà vàng/ Cõi bờ mặc sức nghênh ngang chơi bời/ Nghiến răng chuyển bốn phương trời/ Ai ai là chẳng rụng rời sợ kinh”, thì câu đầu là một tục ngữ: “Người khôn cũng ở ao tù” và các thành ngữ: Cơ đồ đình đang; gác tía nhà vàng; nghênh ngang chơi bời. Toàn bộ mảnh lời là sự minh hoạ cho truyện ngụ ngôn “Cóc kiện trời”. Mỗi văn bản là một liên văn bản thì văn bản truyện Nôm là một liên văn bản đậm đặc hơn cả vì trong đó dằng dịt những tầng lớp mã văn hoá mà dân gian đã tích hợp vào đó.

Xứng đáng là một kho tàng văn hoá ẩn giấu trong đó những viên ngọc quý, truyện Nôm cần được khám phá nhiều hơn, sâu hơn.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).