Truyện ngắn và điện ảnh nhìn từ mối quan hệ song hành

Bàn về sự kết nối giữa tác phẩm văn học và điện ảnh, Nguyễn Văn Hùng trong công trình “Những thế giới song hành: từ truyện ngắn đến điện ảnh” đã tập trung soi chiếu sự chuyển thể từ truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986 sang điện ảnh, với mong muốn thể hiện “sự hồi đáp của tôi về phim chuyển thể”.

(Nhân đọc cuốn “Những thế giới song hành: từ truyện ngắn đến điện ảnh” của tác giả Nguyễn Văn Hùng, NXB Đại học Huế, 2020)

Điện ảnh - nghệ thuật thứ 7, du nhập vào Việt Nam từ cuối 1890, trong sự vận động và phát triển của nó, nhiều bộ phim được chuyển thể từ tác phẩm văn học, bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, hồi ký,… Tác phẩm văn học trở thành nguồn kịch bản quý để điện ảnh khẳng định chất lượng và diện mạo độc đáo, mới lạ. 

Bàn về sự kết nối giữa tác phẩm văn học và điện ảnh, Nguyễn Văn Hùng trong công trình “Những thế giới song hành: từ truyện ngắn đến điện ảnh” đã tập trung soi chiếu sự chuyển thể từ truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986 sang điện ảnh, với mong muốn thể hiện “sự hồi đáp của tôi về phim chuyển thể”. 

“Sự hồi đáp” được anh trình bày một cách khéo léo, chỉn chu, bài bản, khoa học trong 567 trang sách, giúp người đọc nắm được cơ sở cải biên/chuyển thể, sự tác động, tương hỗ, tái tạo qua lại giữa truyện ngắn và điện ảnh cũng như vai trò của người tiếp nhận.

Ngoài phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cuốn sách có 8 chương nghiên cứu chuyên sâu theo lý thuyết tự sự học. Trên cái lõi lý thuyết tự sự học văn học và điện ảnh, Nguyễn Văn Hùng còn vận dụng nhiều lý thuyết như: chuyển thể/ cải biên học, phiên dịch học, liên văn bản, văn hóa học, giải cấu trúc/ giải kiến tạo, phê bình nữ quyền, phê bình cổ mẫu, phê bình kí hiệu học,... để chỉ rõ cơ chế liên đới giữa truyện ngắn và điện ảnh. 

Ở mỗi hệ quy chiếu, các phương pháp phê bình được anh sử dụng đậm nhạt khác nhau. Những điểm chung, riêng của truyện ngắn và điện ảnh được anh đánh giá, so sánh, lồng ghép dựa trên sự khảo sát các dẫn chứng tiêu biểu, sinh động. 

Anh khảo sát kĩ 17 truyện ngắn Việt Nam được chuyển thể sang tác phẩm điện ảnh, cụ thể: “Tướng về hưu”, “Người sót lại của Rừng Cười”, “Cỏ lau”, “Khách ở quê ra”, “Thương nhớ đồng quê”, “Những người thợ xẻ”, “Ba người trên sân ga”, “Ngôi nhà xưa”, “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá”, “Trăng nơi đáy giếng”, “Mười ba bến nước”, “Tâm hồn mẹ”, “Người ở bến sông Châu”, “Cánh đồng bất tận”, “Đảo của dân ngụ cư”, “Cha cõng con”. Các phần thống kê, ảnh minh họa in màu cũng góp phần minh chứng, sáng tỏ và hệ thống vấn đề tham chiếu.

Theo thống kê của Nguyễn Văn Hùng, có 44 phim chuyển thể từ tác phẩm văn học, chiếm 42%, nhưng trong đó, truyện ngắn đã chiếm gần 64%. Đó chính là lý do để anh khẳng định: “Không phải ngẫu nhiên, hầu hết các truyện ngắn hay đều được nhà làm phim lựa chọn để đưa lên màn ảnh”. Truyện ngắn được xem là “nguồn dưỡng chất cho sáng tạo điện ảnh”, là sản phẩm để các nhà làm phim chuyển thể/cải biên hơn nhiều thể loại khác.

Điện ảnh là một môn nghệ thuật tổng hợp, trong nó luôn quy tụ nhiều loại hình nghệ thuật. Do đó, giữa truyện ngắn và điện ảnh luôn có mối quan hệ tay ba: đồng nhất, tương đồng và khác biệt. Nguyễn Văn Hùng chỉ ra những điểm đồng nhất, tương đồng và khác biệt giữa truyện ngắn và điện ảnh thông qua các hệ quy chiếu: cốt truyện, chi tiết nghệ thuật, khu vực ngoài cốt truyện, nhân vật, không gian, phương thức trần thuật, ngôn ngữ. 

Bàn về tái cấu trúc đường dây cốt truyện, Nguyễn Văn Hùng chỉ ra đường dây cốt truyện nào đi vào, biến đổi, mở rộng, lược bỏ, tái hồi trong điện ảnh. Anh cho rằng, nhà văn và nhà biên kịch, đạo diễn phim đều quan tâm đến cốt truyện, vì đó là cái khung, cái lõi cấu thành tác phẩm. 

Nhưng điện ảnh có đặc điểm về ngôn ngữ và phương thức biểu đạt riêng, nên khi chuyển thể, từ tác phẩm văn học qua tay nhà biên kịch, nhà đạo diễn, truyện ngắn được “nhào nặn” đến nhiều lần, đã xuất hiện với một diện mạo khác, thậm chí một cấu trúc khác, bởi yếu tố cải biên, bởi chuỗi kí hiệu mới, nhằm phù hợp với môi trường văn hóa, thị hiếu tiếp nhận, cơ chế kiểm soát quyền lực,... 

Nhà biên kịch, nhà đạo diễn nhiều khi đẩy tác phẩm ra xa bản gốc, chỉ lấy một số điểm đinh, sáng, rồi gia cố, xử lý, thêm thắt. Đối với những tác phẩm của nhà văn lớn, một là, nhiều khi cái bóng của họ đổ xuống quá lớn; hai là, sự gặp gỡ tri âm, đồng thanh tương ứng, nên, cốt truyện hầu hết được bám sát, giữ nguyên.

Giữa truyện ngắn và điện ảnh có mối quan hệ đặc biệt, xuyên thấm, cộng sinh, bổ trợ cho nhau, chứ không phải tồn tại theo hai đường thẳng song song. Từ góc nhìn song hành, người đọc thấy vai trò, sự ảnh hưởng, tác động hết sức quan trọng của truyện ngắn đối với việc xây dựng kịch bản và phim truyện điện ảnh chuyển thể. 

Một tác phẩm điện ảnh hay, có giá trị, chuyên nghiệp, không thể thiếu cái nền móng vững chắc của truyện ngắn. Nhưng điện ảnh còn chịu sự ảnh hưởng của các đường dây, vùng trời ngoài truyện ngắn được chuyển thể. 

Vận dụng phê bình liên văn bản, Nguyễn Văn Hùng chỉ ra tính đối thoại vô tận giữa văn bản văn học (truyện ngắn) và văn bản điện ảnh ở cấp độ: nhan đề, poster, trailer, danh sách đoàn làm phim, văn bản ngoài cốt truyện phim. 

Khi chuyển thể “Nàng Lọ Lem”, Nguyễn Văn Hùng thống kê, có 2/3 tác phẩm giữ nguyên nhan đề, 1/3 thay đổi nhan đề, với nhiều xu hướng: tái sử dụng toàn bộ hoặc một phần và thay đổi hoàn toàn để phù hợp với ý đồ của nhà làm phim. 

Nhan đề là “khu vực chiến lược của văn bản”, vì vậy, việc chọn lựa nhan đề cho tác phẩm đóng vai trò quan trọng. Thông qua nhan đề, bạn đọc nắm được phần nào đó linh hồn của tác phẩm. Đối với nhà văn, nhan đề làm nổi rõ giá trị nội dung, ý nghĩa, giúp bạn đọc lĩnh hội tác phẩm nhưng rất hạn chế trong việc sử dụng các yếu tố ngoài văn bản, bởi sự liên quan đến cốt truyện. 

Đối với tác phẩm điện ảnh, tính đa phương diện tạo ra sự thoải mái, tự do khi kết nối, dung nhập các văn bản khác. Nên, nhan đề trở thành một chiến lược PR, được đầu tư kĩ lưỡng từ khâu poster, trailer, chỉ dẫn, danh sách đoàn làm phim,... Lúc này, cốt truyện không bị bó hẹp mà luôn giãn mở bởi sự đa dạng của mạng lưới liên văn bản. Qua tay các nhà làm phim, các yếu tố ngoài văn bản được phát huy vận dụng một cách tối đa, góp phần tỏa sáng tác phẩm văn học.

Bìa cuốn sách mới của tác giả Nguyễn Văn Hùng.
Bìa cuốn sách mới của tác giả Nguyễn Văn Hùng.

Trong mối quan hệ tương hỗ giữa truyện ngắn và điện ảnh, đòi hỏi nhà văn lẫn nhà làm phim ý thức lao động nghiêm túc, năng lực thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật cao. Họ là những người nghệ sĩ chân chính, chuyển tải sức sống của cái hay cái đẹp và phát huy tính liên tưởng, sáng tạo của người tiếp nhận. Việc chọn lựa thủ pháp, phương tiện, kĩ thuật, kĩ xảo,... luôn là những vấn đề quan trọng góp phần kiến giải ý nghĩa và giá trị của câu chuyện “viết trên giấy trắng” hay “viết trên hình ảnh”. 

Muốn có chi tiết “đặc sắc, đắt giá”, nhà văn và nhà làm phim cần đầu tư công sức và chiến lược tạo dựng. Giữa truyện ngắn và điện ảnh có sự gặp gỡ ở cách xử lý chi tiết nghệ thuật, đều kị “chất độn” và “sự thừa thãi”. 

Trong quá trình chuyển thể, chuyển dịch từ hệ thống kí hiệu của ngôn từ sang hệ thống kí hiệu của âm thanh, hình ảnh cùng với sự tác động của nhiều yếu tố khác, các chi tiết bao giờ cũng được xử lý theo nhiều cách: chọn lọc giữ lại; bổ sung các chi tiết mới; cải tác, thay đổi các chi tiết cũ; kế thừa, sáng tạo chi tiết mở đầu và kết thúc; dựa trên nhiều chất liệu đến từ các nguồn văn bản khác nhau; cải tác các chi tiết bởi sự can thiệp của các thể chế chính trị, văn hóa, xã hội. 

Thứ nữa, những hồi đáp của người đọc/xem sẽ khẳng định sự hấp dụ cũng như mở rộng môi trường trải nghiệm của hai người bạn đồng hành: Lọ Lem và điện ảnh.

Từ những yếu tố: cốt truyện, chi tiết, khu vực ngoài cốt truyện, nhân vật, không gian, phương thức trần thuật, ngôn ngữ, Nguyễn Văn Hùng đã hồi đáp về sự thâm nhập, sự khác nhau giữa truyện ngắn và điện ảnh. Điện ảnh không thể thiếu truyện ngắn, vì truyện ngắn đưa đến cho điện ảnh một cái nền, cái trụ vững chắc. 

Về phía nhà văn, điện ảnh giúp họ nhìn lại đứa con tinh thần của mình ở một môi trường khác, từ đó bồi đắp thêm về kĩ thuật phân cảnh, lắp ghép, lối viết giàu âm sắc, hình ảnh. 

Trong sự song hành giữa truyện ngắn và điện ảnh, người đọc được thưởng thức và trải nghiệm ở một không gian, một hình hài, một đời sống khác và tiếp tục giải mã, làm đầy các kí hiệu theo vốn sống mà mình có. Như thế, mỗi thể loại đều có những thế mạnh, phương thức diễn đạt riêng, nhưng đều không tách rời tính thẩm mỹ.

Hoàng Thụy Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).