Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Thoạt nghe, tôi cứ tưởng đó là nước chè xanh, sao lại có cái tên lạ lùng. Tôi tò mò hỏi thử, ngoại bạn mới nhẩn nha kể về một thời quá vãng trong thụng thịnh nhớ thương.

Lúc ngoại còn phơi phới xuân xanh như tụi tôi bây chừ, mỗi ngày đều phải hai buổi ra đồng. Đương trời trưa nắng gắt, đi cày ruộng về ngang qua mấy chòi nấu đường bát, thường được kêu vào cho một bát nước chè hai. Ngửa cổ tu ừng ực mà sướng tê rân người.

Người làng ép cây mía trong “bộ che” bằng gỗ để lấy nước, rồi đem nấu trong chảo gang đặt trên bếp lò. Đợi nước mía sôi nhẹ gợn lăn tăn, gọi là “nước chè một”, hơi chuyển màu thì cho một ít vôi ăn trầu vào để khử độ chua và làm trong nước. Tiếp tục nấu tới khi nước mía sôi trào sẽ liên tục vớt bọt và xơ vụn mía còn sót lại rồi đổ vào thùng lóng. Nước sẽ “đứng” lại, lắng cặn, có màu vàng rêu, đó chính là “nước chè hai”. Nước này được đưa trở lại chảo để nấu cho đến khi cô đặc. Chảo đường non đã tới, sánh quện, đặc quánh, người ta múc ra những chiếc bát (tộ) cho đông cứng thành cục đường vàng nâu sậm.

Ngoại bạn không trồng mía, nấu đường nhưng nhìn người ta làm riết rồi cũng biết. Hồi đó, mấy đứa nhỏ luôn quẩn quanh bên chòi tranh chờ miếng bánh tráng nhúng đường ngọt lự. Còn người làm đồng ngả cái nón cời đợi bát nước chè hai ngọt thanh, thơm lừng. Trời nắng nóng mà uống nước mía hoặc nước chè hai hạ nhiệt giải khát là chuẩn bài. Nghe ngoại kể, tôi dường như cũng ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt tỏa ra từ chảo nước mía sôi sùng sục thuở ấy. Rồi ngoại cắt ngang dòng ký ức bằng câu ca dao mà có lẽ rất nhiều người con miền Trung thuộc làu:

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ nồi cơm nguội, nhớ niêu nước chè,
Nhớ hồi lên ngựa xuống xe
Nhớ bát nước chè, nhớ tộ đường non
...”

Tôi về nhà hỏi má chuyện nước chè hai, qua ánh mắt xa xăm mới chợt thấy bóng má thở dốc dưới cái nắng rát đang xiên vào da thịt. Hồi đó má từng đi đốn mía thuê cho người ta. Chừng khoảng thời gian này, từ cuối tháng giêng tới hết tháng tư âm lịch là mùa thu hoạch mía. Chặt mía phải sát gốc, cắt ngọn để dành giâm mùa sau. Lá mía cứa tay, lông mía xót da ngứa ngáy. Từng hàng mía ngã rạp, cánh tay vung lên hạ xuống mỏi đứ đừ.

Đốn xong đồng mía thì chuyển sang nhổ gốc thuê. Bật gốc mía, bật cả móng tay. Phải giũ sạch đất trả lại cho đồng mía, đem rễ phơi khô và đốt. Gặp người chủ tốt, đôi khi má xin gom ít gốc và lá mía đem về nhà chụm lửa. Đó là câu chuyện hồi tôi còn rất nhỏ để có thể hiểu thấu nỗi cơ cực của má, để biết rằng má đã có một quãng đời bươn bả mặn đắng mà mang về những ngọt lành cho các con.

Trong trí nhớ của tôi chỉ có bụi mía trắng cao ngất trời được ba trồng trong khu vườn xanh lá. Chắc có lẽ má xin giống mía từ những xứ đồng má giẫm nứt đôi gót chân. Ba tôi có tay nuôi trồng, cây mía của ông to tròn, thẳng tắp và ngọt lịm. Mía ba trồng ngon tới mức, miếng bã mía tôi nhai sơ qua và nhả ra, con chó Xù còn thích thú đớp lấy gặm lại. Bụi mía um tùm đó từng là niềm tự hào quê kiểng của tôi.

Năm học phổ thông ở thành phố, tôi lấy mía làm quà cho bạn bè cùng lớp. Trước khi cho, còn cẩn thận chà sạch lớp bụi bẩn bám trên thân mía. Lóng mía dài hơn gang tay người lớn, to gần bằng cổ tay tôi, vỏ xanh bóng đẹp mắt khiến đám bạn ngạc nhiên, lầm tưởng là… cây trúc. Cả bọn dùng răng tước vỏ mía rồi vừa gặm nham nhở vừa cười hớn hở.

Mỗi chiều hè tuổi thơ, tôi tranh thủ cắt sạch lá mía phơi khô, chất trữ đầy gian bếp đợi mùa nước dâng có lá nhen lửa hong ấm đôi bàn tay. Trời càng nắng mía càng sắc ngọt. Thường mưa dầm thì cây mía sẽ nhạt bớt nên ba hay đốn hết bụi mía đem chia cho hàng xóm trước mùa bão tới. Bởi dẫu để cây lại thì cơn gió trời cũng lồng lộn lên xô ngã tơi bời.

Còn nhớ, ba tôi bị co cứng ngón tay cái do một lần trúng gió, nên khó cầm nắm mọi thứ. Lúc ấy tôi luôn chặt mía, róc vỏ và cắt khúc nhỏ để sẵn cho ba ăn. Mê mía là thế, nhưng rồi ba đành chịu thua trước anh trai tôi, vào lúc làm nhà mới, anh đã nhổ sạch bụi mía xưa. Một ngày nào đó của những năm tháng cuối đời, ba đã chép miệng với nắng chiều xứ Quảng:

Chầu rày hết mía hạ chòi,
Còn chi lên xuống mà đòi đường non
”.

Tôi nhiều lần tiếc nuối, sao lúc đó không cản anh trai, đừng dọn bỏ hết bụi mía của ba. Nhưng rốt cục thì, tôi cũng không làm sao ngăn được khi người rời đi về nơi mịt mờ sương khói xa xôi…

Ny An

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.

"Hang Hổ" - một bức tranh vùng cao mời gọi

"Hang Hổ" - một bức tranh vùng cao mời gọi

Tập "Hang Hổ" có 14 truyện ngắn, mỗi truyện là một bức tranh vùng cao theo các chủ đề khác nhau nhưng chung một phong cách trữ tình sâu lắng và hiện thực trào tiếu, tưởng như đối lập, xa nhau nhưng thống nhất tạo nên nét riêng ngòi bút Trần Nguyên Mỹ.