Trong thế giới của Sương

“Sương” của Lương Kim Phương gồm 30 bài, mong manh, đầy huyễn mộng. Như tên nhan đề cho thấy, “sương” vừa là cảm xúc, vừa là thi điệu, không có bài nào tên “Sương”, nhưng “sương” là mã của tập thơ.

Nhà văn Đốpgiencô nói về bản chất của nghệ sĩ, đại ý: hai người cùng nhìn xuống, một người chỉ thấy vũng nước, người kia lại thấy những ngôi sao. Đọc thơ Lương Kim Phương, thấy bản mệnh người thơ của chị bắt nguồn từ sự nhạy cảm như thế, phải vậy chăng:

hoa Hạ Lũng cuối vườn/ đọng những giọt ban mai trên cánh mỏng/ chẳng thấy bố cục/ chỉ vẳng một hồ nước trong vắt dưới chân núi/ nụ hôn cuối/ trên gương mặt đẫm sương đêm…/ cố nhìn chỉ thấy/ một đám mây bọc khung cửa” (Đọc sách của người cũ).

Lương Kim Phương làm nghề dạy học, nhưng có lẽ thuộc trong số ít những người dạy học còn đắm đuối với văn chương. Chạm ngõ phê bình bằng “Tái sinh trong ánh sáng” (NXB Hội Nhà văn, 2019) bước đầu gây được tiếng vang, tác phẩm đồng thời nhận Giải B của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 2019.

Năm 2022, Lương Kim Phương ra mắt “Sương” (NXB Hội Nhà văn), tập thơ đầu tay của chị. Nhìn trên phương diện sáng tác, điều này không bất ngờ bởi Phương làm thơ và có thơ công bố từ lâu. Năm 2014, chị từng đạt giải Nhì (không có giải nhất) của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng.

Với Phương, ngoài áp lực sáng tạo như một mẫu số chung của người cầm bút, có lẽ chị còn có những lý do riêng khiến mình “phải khác”. Thứ nhất là việc viết phê bình và môi trường học tập nghiên cứu sinh khiến Phương thường xuyên phải tiếp cận với tài liệu, ý tưởng mới về thơ, từ đó giúp chị hình dung đầy đủ về sự gian khổ của một con đường. Thứ hai là, sống trong không quyển văn chương Hải Phòng, mảnh đất sản sinh nhiều anh kiệt nên áp lực sáng tạo với Phương hẳn là lớn…

img_1963.jpg -0

“Sương” của Lương Kim Phương gồm 30 bài, mong manh, đầy huyễn mộng. Như tên nhan đề cho thấy, “sương” vừa là cảm xúc, vừa là thi điệu, không có bài nào tên “Sương”, nhưng “sương” là mã của tập thơ.

Trong không gian thơ Lương Kim Phương, “sương” có hai hàm nghĩa. Một là “giọt sương”, biểu tượng của ban mai tinh khôi, cũng là sự triển hiện tứ thơ khởi nguồn “tái sinh trong ánh sáng”. Chỉ dùng phương pháp thống kê, có thể nhận ra, “sương” như một thi ảnh phủ tràn không gian mong manh, giọt đậm, giọt mờ, dùng dằng, bảng lảng, vấn vương: “sương mờ quấn phủ”, “những giọt ban mai”, “giấc mơ bay cùng sương”, “giọt sương chắt cho thân cành”, “gương mặt đẫm sương đêm”, “lãng đãng mù sương”, “mộng mị sương thu”…

Gắn với sương, là những giấc mơ hư ảo, hoang đường, huyễn dụ: “những giấc mơ từ thời niên thiếu”, “giấc mơ em không muốn tỉnh”, “những cơn mơ đã biến thành lá khô”. Và do thế, có thể nhận ra nghĩa thứ hai của sương: những xúc cảm mong manh, xa vắng, mơ hồ trong tâm hồn người con gái. Cũng bằng phương pháp thống kê, có thể thấy, những mảng từ vựng, danh - động - tính từ cùng trường nghĩa phủ kín tập thơ, chập chờn như “sợi tơ sen”, gợi cảm, nữ tính, phảng phất u buồn: mùa thu, lá khô, hoa lạc tiên, heo may, chạng vạng; trầm tích, thánh đường, giọt chuông; bầy chim ngói, chuồn chuồn; cơn mơ, hoang đường, ảo ảnh, ảo giác, mộng mị, giấc ngủ; rơi, đánh rơi, vỡ, chìm; sợ, tuyệt vọng, cô độc, tiếc nuối…

Nhan đề thơ Lương Kim Phương vừa gợi cảm, vừa gợi nghĩ. Ở đó, có mã ký ức thân quen, dễ chạm vào thương nhớ (“Mùa chim ngói”, “Khi vòm xoan đã tím”, “Đêm Cô Tô”, “Thị trấn bên kia sông”…), lại có những suy tưởng hiện đại rất riêng (“Ngày rất lạ”, “Trong khu vườn thư viện cổ”, “Thác”, “Nỗi buồn”, “Như giọt sương”, “Ảo mộng”, “Suy tưởng về ý nghĩ”, “Trôi trong đêm rừng”, “Gương mặt”…).

Không gian thơ Lương Kim Phương là một khung trời huyễn mộng. Nó đủ xa để tạo ra miên viễn, nhiều ban mai và đêm, và những chân trời xa thẳm. Những vệt nhòe về kỷ niệm, về tình yêu, bàng bạc, sương khói mơ hồ. Tính thơ trong “Sương” khởi sinh có lẽ từ những điều mong manh ấy: “vốc mùa đông lên lòng tay/ K có thấy những cơn gió xám hóa thành những đường chỉ tay nhằng nhịt/ những cơn mơ đã biến thành lá khô/ thả rơi đầy gối” (K và những dạ khúc).

Thơ Lương Kim Phương diễn đạt tinh tế thế giới hoang liêu trong tâm hồn người con gái. Như nỗi buồn mơ hồ trong buổi chiều nắng nhạt. Chút thoáng xót xa. Những mang mang tiếc nhớ điều gì xa xăm đã mất. Cảm giác hoang hoài trước những rạn vỡ thầm thì của thời gian: “cánh đồng sau nhà giờ thành chung cư/ bầy chim ngói không về nữa/ tháng mười đã vỡ” (Bầy chim ngói); “thị trấn êm đềm năm xưa giờ lộng lẫy thành đô thị qua cầu/ chuyến phà cuối cùng/ chở ký ức về thị trấn/ có người lên hoảng hốt/ đánh rơi cả hoàng hôn” (Thị trấn bên kia sông).

Cảm xúc trữ tình trong thơ Lương Kim Phương khá đa dạng, khi như khăn mới thêu, khi tựa nắng qua đèo, đôi khi là chút thoáng trách trầm, chút xót xa: “có những lúc/ con chỉ yêu tình yêu của mình thôi/ mải đuổi theo những điều mong manh nhất” (Chiếc roi của bố).

biasuong.jpg -0
Bìa tập thơ “Sương” của Lương Kim Phương.

Phương trong “Sương” phiêu lãng như gió thoảng, vừa nghe những tàn phai. Không phải ngẫu nhiên, “Sương” có nhiều thi tứ, thi ảnh gắn với những chiêm nghiệm già dặn bất ngờ: “sáng thức giấc thấy mình mọc thêm nhiều con mắt/ con mắt trên lưng/ vẫn thấy mình ảo tưởng phía trước là tất cả/ ai nhìn giúp mình phía sau/ lại thấy thêm con mắt dưới gan bàn chân/ mỗi bước đi lại thêm phần dè dặt/ nhắc bước qua những lời nhọn sắc/ khéo dẫm vào nỗi buồn của người” (Ngày rất lạ); “những ý nghĩ bao bọc chủ nhân ru ấm làn môi/ ta hoang tưởng về hạnh phúc và sự đổ vỡ/ nào hay những ý nghĩ vẫn bên ta/ những người chết có ý nghĩ không/ có thể/ trồi lên thành cỏ” (Suy tưởng về ý nghĩ).

Như nhịp đập tất yếu của một trái tim đa cảm, giàu nữ tính, trong “Sương”, các bài thơ tình chiếm số lượng ưu trội. Thơ tình Lương Kim Phương không lẩy từ thường nhật áo cơm, cũng không hờn tủi, ghen tuông mà chỉ là những khắc khoải, mong manh, tận hiến, những quyến luyến, u hoài: “khế ước giữa chúng ta được dệt từ tơ sen; những sợi tơ sen níu vào anh”... Và rồi, trong chút thoáng xót xa, anh cũng chỉ như một cơn mơ giữa chợ hoa tan sương, còn em mong manh “như giọt sương chắt cho thân cành”.

Tình yêu trong thơ Phương, do thế, luôn xa cách, thoáng chút “nửa hồn thương đau”: “tôi ươm những hạt tình yêu/ trong chiếc lọ thủy tinh/ lượt đầu tiên/ vãi lên khu vườn anh/ gió đã thổi những chiếc hạt của tôi bay mất” (Trong suốt); “thả kí ức anh vào biển vắng/ mai em theo chồng/ thả những con ốc biển anh gửi ngày xưa/ thôi người nằm lại…/ những dấu chân cuối cùng ta đã dẫm lên nhau/ kỷ nguyên nào biển cạn một đại dương muối khô/ còn những hạt muối từ nước mắt em/ từ những ban mai run rẩy” (Biển đã xóa); “giấc mơ em không muốn tỉnh/ sợ không có anh ở bên/ em ôm ngực lấp loáng trăng/ thả những nụ hôn đẫm sương đêm lên khuôn mặt anh… em chỉ tồn tại khi bên anh/ dẫu chỉ là tưởng tượng/ mong manh” (Ảo mộng)…

Trong thơ Lương Kim Phương, hình tượng “anh” trở đi trở lại, như nỗi khắc khoải xót xa về một ảnh hình, một giấc mơ xa xăm, một chân trời dĩ vãng không bao giờ trở lại: “cây tình yêu/ mọc trên nỗi nhớ chưa có bao giờ”. Dường như luôn có một khoảng trống chẳng thể lấp đầy trong tâm hồn người con gái: “mộng mị sương thu buồn những ý nghĩ của tôi/ sắp tàn như những ngọn nến bồng bềnh trôi trên nền nhà buổi tối đôi ta quấn quýt hoan lạc/ cả khi ngủ vùi trong lòng tình nhân sao vẫn thấy cô độc quá chừng” (Suy tưởng về ý nghĩ).

Thơ Lương Kim Phương giàu cảm xúc, nhưng không dễ đọc. Điều này có lẽ do chị chăm chú khá nhiều vào phương diện “tính thơ” của ngôn từ. Để làm được điều này, sự lạ hóa ngôn ngữ, làm cho ngôn ngữ trở nên mang tính thẩm mỹ hẳn là một yêu cầu tất yếu. Lạ hóa khiến thơ Phương không bị chìm trong giọng cũ, nhưng nó sẽ trượt ra khỏi đường ray mỹ cảm thông thường, và như thế, sẽ có một chút khó đọc, đương nhiên: “những mùa hoa bên những linh vật/ thở hổn hển/ chiếc lò nung lạnh lạnh/ hun lên mùi nhớ/ đôi bàn tay nghệ nhân ở xưởng nặn/ hứng lấy mùa thu/ vừa ngang qua” (Mùa thu ở làng gốm 2); “tìm đâu chiếc cốc môi anh/ em hằng uống những khao khát” (Ngày anh xa)…

Tính thơ trong ngôn ngữ thơ Lương Kim Phương còn đến từ những sáng tạo từ ngữ, những ẩn dụ chuyển đổi cảm giác giàu mỹ cảm, cái làm nên sắc diện của “Sương”: “mùi nhớ”, “những giọt ban mai trên cánh mỏng”, “nghe mùi quỳnh đang nở”, “gió đổ hương thành cơn mưa tím”, “những cơn gió đuổi nhau còn vấp/ đêm em mơ toàn mùi cỏ hăng”, “vốc một thời thiếu nữ trong tay/ khỏa những vòng hoa xoan trên nước”…

Đọc “Sương”, thấy Lương Kim Phương tránh được ba điều dễ mắc trong thơ, đặc biệt là thơ trẻ: cũ, sáo và sến. “Sương” mong manh nhưng sâu thẳm, mãnh liệt mà thầm kín, hiện đại mà thân quen. “Sương” xa vắng như làn khói chiều, giọt sương đêm, như ánh mắt hoang vắng của người con gái buổi chiều đông. Đặt cược tập thơ đầu vào “sương”, vào cái điều mong manh nhất ấy, là một sự mạo hiểm, chênh vênh, nhưng đọc “Sương”, bạn đọc có cơ sở để tin rằng, “Sương” đã không phụ công Phương. Và chúng ta cùng hi vọng.

Phùng Gia Thế

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).