Triết lý nhân sinh trong một vở tuồng cổ

Bản in cũ nhất của vở tuồng cổ "Trương Ngáo" (tên đầy đủ là "Trương Ngáo đòi nợ Phật") được in ở nhà xuất bản Claude et Cie Impimerie (Sài Gòn, 1904) có 40 trang với 17 lớp tuồng và 12 nhân vật. Nhiều nhà nghiên cứu tuồng cho rằng vở này có tuổi đời trên dưới 200 năm...

Đã có nhiều dị bản dân gian và tác giả bác học viết lại, bổ khuyết để dựng thành vở nhưng cái lõi ý nghĩa nội dung thì hầu như vẫn giữ nguyên.

Tuồng hát bội truyền thống thường đi theo đề tài "quân quốc" tức chuyện vua quan liên quan đến vận mệnh đất nước đề cao tính lý tưởng "trung quân", như các vở "Sơn Hậu", "Tam nữ đồ vương", “Đào Phi Phụng", "Võ Hùng Vương"… có đặc điểm là tính ước lệ rất cao. Nhân vật được miêu tả theo lối công thức: "Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc/ Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi".

Nhưng lại có một số vở như "Nghêu, Sò, Ốc, Hến" hay "Trương Ngáo" thì lại rẽ theo một lối khác - lối tuồng hài với sự cách tân rõ nét: phá vỡ đề tài quen thuộc, đưa nhân vật người thường, thậm chí tầm thường làm nhân vật trung tâm. Ở vở "Trương Ngáo" còn gắn ý nghĩa triết lý nhân sinh với triết lý tôn giáo (đạo Phật) nhằm mục đích đề cao ý nghĩa con người và cuộc sống đời thường

Một cảnh trong vở tuồng cổ "Trương Ngáo".
Một cảnh trong vở tuồng cổ "Trương Ngáo".

Anh chàng Trương Ngáo vốn có bản tính thật thà đến mức ngô nghê được vợ cho năm quan tiền đi buôn, để mụ rảnh rang rước giai về nhà. Trên đường đi nghe thấy chuyện mang của cúng chùa thì sau này sẽ hưởng phước, thế là chàng ngốc ta vào chùa cho Phật vay tiền. Về khoe, dĩ nhiên bị vợ cho ăn gậy và bắt đi đòi lại. Ngáo ta hồn nhiên đi, nhưng không đòi ở chỗ đã cho vay mà sang tận Tây Thiên đòi Phật Tổ… Tác phẩm mang đậm cảm quan dân gian về Phật giáo gần gũi, đời thường, bình đẳng với con người.

Nhân vật chàng ngốc đã có nhiều trong truyện dân gian, ở vở tuồng này còn ngược và lạ đời hơn… Ngáo gọi Phật Tổ là "anh" (Gần chùa gọi Bụt là anh). Bật cười trước bộ dạng, hành vi và ứng xử của Ngáo, rồi Phật thương Ngáo hay thương người tâm thiện mà nhận Ngáo làm đệ tử và đặt tên mới là Chơn Tâm…  Hành trình của thầy trò Đường Tăng trong "Tây du ký" đi Tây Trúc thỉnh kinh hay là hành trình của con người đi tìm lý tưởng? Tôn Ngộ Không biểu trưng cho trí tuệ và Trư Bát Giới biểu trưng cho tình cảm thống nhất trong một con người Đường Tăng.

Ai cũng thế, sống ở đời là phải trải qua bao tai ách (81 nạn) mới có thể tìm tới lý tưởng (Kinh Phật). Trong cuộc hành trình đó con người phải luôn dùng trí tuệ (Tôn Ngộ Không) mới vượt qua được khó khăn trở ngại (yêu quái). Ý nghĩa phổ quát ấy của thiên kiệt tác làm say mê hàng triệu trái tim của bao thế hệ, không chỉ ở phương Đông mà còn ở cả nhân loại.

Còn hành trình của Trương Ngáo đến Tây phương đòi nợ Phật hay là hành trình của con người kiếm tìm sự thật? Đó là những triết lý lớn chỉ có ở những tác phẩm lớn. Trên mọi cuộc hành trình, cuộc đời cũng như khoa học, nghệ thuật cũng như tôn giáo, lao động cũng như tình yêu thì cái đáng quý là quá trình khám phá, tìm hiểu chứ không phải mục đích. "Đi là sống, đến là chết".

Ngạn ngữ phương Tây đã nói vậy. Tính hiện đại của vở tuồng chính là ở sự phân tích quá trình biến đổi nhân vật Trương Ngáo từ chưa biết đến biết, từ sự ngờ nghệch, ngốc nghếch đến minh triết sáng láng. Ta thấy vở tuồng rất ít nhân vật, nhân vật chính chiếm gần trọn không gian tác phẩm. Kết cấu tình tiết, cảnh vật, hình ảnh của vở tuồng đi theo bước hành trình của nhân vật chính.

Ý nghĩa cơ bản của tác phẩm như muốn đưa ra một bài học: muốn thay đổi, làm mới mình phải "lên đường" tức phải bước vào quá trình học hỏi dù có phải trải qua bao khó khăn. Điều quan trọng nhất là người ta phải có đủ ý chí, trí tuệ và niềm tin! Khi đã "tư duy" được tượng Phật chưa phải là Phật, cho tượng Phật vay tiền nên không thể đòi, thế thì phải đòi Phật Tổ, dù ngàn trùng xa xôi. Tức là Ngáo đã "ngộ" để "đổi ngôi" sang một thân phận khác, thân phận của trí tuệ và trí huệ.

Nhà Phật định nghĩa rõ về trí tuệ, "thông đạt sự tướng hữu vi" (tức hiểu thông cái vỏ sự vật) thì gọi là trí, "thông đạt không tướng vô vi" (tức hiểu thông cái lõi sự vật) thì gọi là tuệ". Vượt lên trí tuệ là trí huệ. Nếu trí tuệ kết tinh từ những trải nghiệm ngoài đời thì trí huệ là sự kết tinh của thế giới nội cảm tâm linh bên trong của con người.

Theo nhà Phật, trí huệ chỉ có được qua sự tích luỹ, sự giác ngộ của nhiều kiếp sống. Như vậy Ngáo ta từ thân phận một chàng ngốc được làm đệ tử Phật Tổ tức là một sự đổi ngôi triệt để, đã hoàn thành một cuộc hành trình vĩ đại từ ngốc nghếch vươn tới tầm trí huệ. Ngáo đã tìm được chân lý của đời mình!

Ngáo đã vượt qua cái khoảng không gian ngàn trùng tức vượt qua cái hèn kém của con người, cái thử thách của cuộc đời. Cái hay đặc sắc của tuồng "Trương Ngáo" chính là quá trình đến và gặp Phật, tức là gặp được sự thật. Nếu Ngáo không "ngộ" tức không có bản lĩnh Ngáo sẽ không đến được Tây Thiên. Ở đời vẫn thế, nhiều người, dù lắm tiền nhiều của nhưng vẫn có thể chết mòn cùng với tiền của mà không hề biết một cuộc sống khác, chưa nói tới chuyện được gặp chân lý.

Cái tuyệt vời của Ngáo là gặp Phật nhưng vẫn quyết giữ bản thể, bản sắc của mình. Ngáo chỉ đòi tiền cho vay chứ không xin xỏ một cái gì khác, một điều gì khác. Ngáo đã biết dừng lại (tri chỉ) thế nào là đủ (tri túc). Ta thấy Ngáo hơn hẳn Trư Bát Giới hay Sa Tăng xin Phật Tổ cho mình hoá thành Phật. Phật Tổ đổi tên và cho sánh duyên với nàng Hà Như Ý nhưng Ngáo cũng không cảm ơn vì coi đó là việc của nhà Phật. 

Phật cho Ngáo nhành cây soi rõ tình đời hay chấp tay lạy hái ra tiền, Ngáo cũng từ chối. Ngáo đã "đổi ngôi" và quyết không đổi nữa vì Ngáo đã thấy đủ, thấy được đích thực là mình, nếu đổi là mất mình. Ngáo đã nêu ra bài học: hành trình của con người kiếm tìm sự thật là được "đổi ngôi" khi thấy cần, nhưng cũng là giữ vững "ngôi" khi thấy đủ! Biết đủ là đủ không hề đơn giản, phải có một quá trình "biết" rất khó khăn để thấy cái "đủ" nhẹ nhàng!

Vở tuồng cổ “Trương Ngáo” chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc.
Vở tuồng cổ “Trương Ngáo” chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc.

Vợ Ngáo là Ba Bành và người tình Lục Tồn cũng tự đổi ngôi bởi tính cách xấu xí, tráo trở, lẳng lơ, dâm đãng. Đang làm ăn khấm khá, nhà cửa đề huề, vì say mê sắc dục mà Lục Tồn bỏ vợ bỏ nhà lấy Ba Bành. Kết cục sự nghiệp Lục Tồn tiêu ma, từ giàu có thành trắng tay, tức bị "lộn ngược". Ba Bành cũng chịu chung số kiếp…

Cái lõi thẳm sâu bên trong của vở tuồng là những khao khát nhân văn thánh thiện luôn muốn cựa quậy, muốn bung phá, muốn vươn lên thế giới của cái đẹp, cái hạnh phúc!

Câu chuyện đi "đòi nợ" lại là câu chuyện về đối thoại. "Đòi nợ" là chuyện mong muốn được đối thoại. Khi Ngáo cho tượng Phật vay tiền trở về "khoe" với vợ liền bị đánh. Ngáo ta than thở: "Cúng Phật mà đắc tội/ Cho vay lại phải đòn" thì không phải than với vợ mà là than với công lý. Ngáo ta trở lại chùa nơi cho vay liền bị sư quát "Thằng ở đâu lếu láo/ Làm những sự dại ngây/ Của cúng là của mất…". Ngáo ta không thèm nói lại vì chủ thể lời quát này không xứng để "đối thoại". Ngáo đã bừng tỉnh về tri thức: phải đi tìm người xứng đáng để đối thoại. Và Ngáo lên đường…

Để tạo ra một cuộc đối thoại cần phải có bốn yếu tố cơ bản: hiểu biết, bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt, biết lắng nghe. Thì ta thấy Ngáo đang dần có đủ những cơ sở ấy. Khi có đủ trí tuệ và niềm tin, Ngáo lên đường. Gặp Phật, Ngáo không quỳ lạy tức Ngáo muốn bình đẳng với Phật. Ngáo tôn kính Phật nên không xin xỏ. Lắng nghe Phật nhưng Ngáo làm theo ý mình. Còn Phật lúc đầu bật cười vì sự ngược đời mà cho rằng "họ Trương mắc chứng điên cuồng" nhưng lắng nghe và thấu hiểu lại thấy Ngáo "vốn nhà gã có lòng thành kính". Phật Tổ đã nhận Ngáo làm "đệ tử" tức Phật đã thấu hiểu để thấu cảm về Ngáo. Thì ra để thấu hiểu và thấu cảm về nhau là cả một quá trình. Không có đối thoại các bên sẽ không bao giờ có sự kết nối, giao lưu, hoà nhập.

Đã có ý kiến cho rằng vở tuồng ảnh hưởng từ "Tây du ký". Cũng là hành trình đi Tây Trúc, cũng qua bao gian nan, cũng gặp Phật Tổ…Nhưng như ta thấy, nó chỉ chịu ảnh hưởng ở phương diện môtip, còn nội dung ý nghĩa là khác nhau. Mục đích cũng khác nhau, thầy trò Đường Tăng đi "xin" (thỉnh kinh) còn Ngáo ta là đi "đòi" (đòi nợ). Ngáo ta hồn nhiên hơn (không suy tính, nghĩ ngợi nhiều); bản lĩnh hơn (đi một mình): khảng khái, tự tin hơn (không lạy, không xin)… Đó cũng là một nét bản sắc Việt!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.