Tranh Việt trong dòng chảy “ hồi hương”

Sự kiện Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh tiếp nhận bộ sưu tập quý hiếm do gia đình nữ họa sĩ Lê Thị Lựu tại Pháp hiến tặng được coi là sự kiện mỹ thuật tiêu biểu trong năm 2018. Từ dấu mốc này, nền mỹ thuật Việt Nam có quyền hy vọng vào sự trở về của những tuyệt tác xa xứ...

Cuộc trở về của những “báu vật mỹ thuật”

Năm 2018 là năm dòng chảy hồi hương của những “báu vật mỹ thuật” trở nên mạnh mẽ. Tháng 3, bức “Thôn nữ Bắc Kỳ” của họa sĩ Nam Sơn được một nhà sưu tập tại Hà Nội đấu giá thành công và mang về nước. Tháng 10, mỹ thuật Việt Nam lại đón tin vui khi bức tranh lụa “Thiếu nữ cầm quạt” của Nam Sơn lên sàn Aguttes (Pháp) đã có vài ba nhà sưu tập trong nước đăng ký đấu giá.

Từ mức khởi điểm 200.000 euro, bức tranh rời Hà Nội năm 1938 này tăng vọt 440.000 euro (gần 12 tỉ đồng tiền Việt). Người đấu giá thành công là một phụ nữ gốc Việt. Ông Ngô Kim Khôi - cháu ngoại họa sĩ Nam Sơn hy vọng “Thiếu nữ cầm quạt” sẽ tái ngộ quê nhà như bức “Thôn nữ Bắc Kỳ”.

Cuối năm 2018, công chúng Hà Nội nô nức đón nhận cuộc trở về của nhiều họa phẩm đắt giá trong triển lãm “Nguyễn Thụ - Hiện thực và Trữ tình”. Họa sĩ Nguyễn Thụ nổi tiếng với tác phẩm nên thơ, giản dị như: “Bác Hồ đi công tác”, “Cô gái Tày”, “Làng ven núi”...

Với nét đẹp riêng biệt, nhiều tranh lụa của ông được các nhà sưu tập nước ngoài ưa chuộng. Hội ngộ những “đứa con tinh thần” lưu lạc xa quê, lão họa sĩ rất xúc động. Đây là triển lãm rất ý nghĩa vì nó giúp công chúng có cái nhìn toàn diện về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thụ. 60 bức tranh tại triển lãm nằm trong bộ sưu tập tranh Việt gần 500 bức của nhà sưu tập Phan Tiến Dũng do ông cất công mua lại từ các nhà sưu tập nước ngoài trong nhiều năm qua.

Họa sĩ Lê Thị Lựu thời trẻ ở Pháp.
Họa sĩ Lê Thị Lựu thời trẻ ở Pháp.

Ngoài tranh Nguyễn Thụ, còn có nhiều tác phẩm quý hiếm như: “Phong cảnh” của Nguyễn Gia Trí,“Điệu múa cổ”của Nguyễn Tư Nghiêm, “Chân dung Lâm cà phê” của Bùi Xuân Phái, “Tình mẫu tử” của Lê Phổ...

Sự kiện khiến giới mỹ thuật xôn xao nhất là sự kiện Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh tiếp nhận bộ sưu tập của họa sĩ Lê Thị Lựu do gia đình bà hiến tặng vào ngày 23-11. Bởi đây là lần đầu tiên nền mỹ thuật nước nhà nhận được loạt tranh hiến tặng đồ sộ và quý giá. Số tranh hiến tặng lên tới 29 bức.

Tên tuổi họa sĩ cũng là lý do khiến sự kiện này thu hút. Lê Thị Lựu (1911-1988) được xem là nữ họa sĩ mỹ thuật đương đại đầu tiên của Việt Nam. Bà tốt nghiệp thủ khoa khoá 3, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1932.

Năm 1940, bà sang Pháp cùng chồng và chủ yếu sáng tác trong giai đoạn này. Lê Thị Lựu còn là một thành viên trong bộ tứ danh họa thứ ba của nền mỹ thuật Việt gồm: “Phổ, Thứ, Lựu, Đàm” (Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Vũ Cao Đàm).

Cùng với các danh họa Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Nguyễn Phan Chánh, bà là một trong những người đặt nền móng cho tranh lụa Việt Nam. Bà chuyên vẽ tranh sơn dầu với thủ pháp bồi lụa và tạo dấu ấn riêng với sự pha trộn Á - Âu tinh tế.

Nhà sưu tập Lê Thụy Khuê, người được gia đình họa sĩ Lê Thị Lựu gửi gắm việc hiến tặng bộ sưu tập này cảm nhận: “Tranh bà êm dịu ánh sáng, nhẹ nhàng màu sắc, mềm mại nét bút, chủ đề chuyên biệt: phụ nữ và thiếu nhi. Bà chuyển tất cả thần thái, tâm sự nhớ nhà, sự âu yếm, dịu dàng và tế nhị vào nét bút như một căn cước, một bản sắc”.

Từ trước đến nay, hầu như công chúng trong nước chưa từng tận mắt chiêm ngưỡng tranh của nữ danh họa. Do vậy, triển lãm chuyên đề "Lê Thị Lựu - Ấn tượng hoàng hôn" do Bảo tàng tổ chức ngay sau lễ tiếp nhận khiến công chúng vô cùng trông chờ, háo hức. Lần đầu tiên họ được thưởng thức những họa phẩm nổi tiếng được giới sưu tập quốc tế săn lùng như:“Chị dạy em viết chữ Nho”, “Chân dung thiếu nữ”, “Mẹ địu con”, “Thiếu nữ khăn vàng”, “Nửa chừng xuân”, “Thiếu nữ trong hoa”...

Khái niệm “tranh Việt hồi hương” bắt đầu được khơi mào từ năm 2013 khi nổi lên các nhà sưu tập tư nhân tích cực săn lùng, đưa tranh quý về nước. Thành công nhất phải kể đến nhà sưu tập Nguyễn Minh. Nhờ tiềm lực tài chính từ việc kinh doanh, cộng tâm huyết với quốc hồn, quốc túy của dân tộc, Nguyễn Minh đã đấu giá thành công hàng chục họa phẩm nổi tiếng ở các nhà đấu giá Sothebys và Christies (Hong Kong), Marsart Autioneer & Appraisers (Jerusalem, Israel), Bruck (Mỹ)...

Năm 2015, ông trình làng thành quả bằng triển lãm “Hội họa Việt Nam - Một diện mạo khác” tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Cuộc trở về đất mẹ của những “báu vật mỹ thuật” của họa sĩ Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ, Nguyễn Tường Lân... khiến giới mộ điệu nức lòng.

Nhưng phải đến năm nay, dòng chảy tranh Việt hồi hương mới trở nên mạnh mẽ và gây chú ý đặc biệt. Tín hiệu vui của dòng chảy này không chỉ ở việc mua bán, đấu giá của giới sưu tập tư nhân Việt Nam ngày càng rầm rộ mà còn xuất hiện việc gia đình danh họa tự nguyện hiến tặng tác phẩm. Bởi nói như lãnh đạo một bảo tàng, nếu không được hiến tặng thì với cơ chế tài chính như hiện tại, các bảo tàng Việt Nam còn lâu mới mua nổi một bức chứ đừng mơ tưởng đến bộ sưu tập của “thế hệ vàng” Trường Mỹ thuật Đông Dương.

Một số tác phẩm nằm trong bộ sưu tập mà gia đình họa sĩ Lê Thị Lựu hiến tặng Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh.
Một số tác phẩm nằm trong bộ sưu tập mà gia đình họa sĩ Lê Thị Lựu hiến tặng Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh.

Vẫn hẹp đường về cố hương

Từ lâu bà Lê Thụy Khuê đã ấp ủ ước muốn đưa tranh của các họa sĩ tài danh ở Pháp về Việt Nam. Tuy nhiên, gia đình các họa sĩ không mấy yên tâm khi thị trường mỹ thuật trong nước vẫn lùm xùm vấn nạn tranh giả. Tranh của các họa sĩ Trường Mỹ thuật Đông Dương thì càng bị sao chép tràn lan và tinh vi vì chúng được giới yêu tranh trong và ngoài nước ráo riết săn lùng.

Chính vì vậy, bà Lê Thụy Khuê phải mất nhiều lần về nước khảo sát tình hình. Ý tưởng đưa tranh Lê Thị Lựu về nước bắt đầu từ năm 1994. Nhưng phải mất hơn hai thập kỷ, ý tưởng đó mới thành hiện thực. Sở dĩ bà “chọn mặt gửi vàng” cho Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh vì bà tin tưởng và nhìn thấy được tâm huyết của Bảo tàng.

Ông Trịnh Xuân Yên, Phó Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh cho hay: “Để nhận được sự tin tưởng ấy, chúng tôi phải chứng tỏ năng lực của mình, đảm bảo rằng tác phẩm hiến tặng sẽ không bị sao chép, mất mát hư hao, được bảo quản và phát huy tốt giá trị”.

Chính vì những vấn đề này mà trước đây, không ít bảo tàng từ chối thẳng thừng khi một số họa sĩ và nhà sưu tập ngỏ ý hiến tặng tranh quý. Bảo tàng lo kinh phí hạn hẹp, điều kiện vật chất thô sơ thì không kham nổi việc bảo quản, khai thác. Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng cho rằng, bảo tàng từ chối còn vì các họa sĩ hiến tặng thường yêu cầu được lập phòng tranh riêng.

Riêng việc bảo tàng đứng ra mua tranh thì lại càng khó. Nguồn kinh phí hạn hẹp, trung bình một năm bảo tàng được nhà nước cấp khoảng một tỷ đồng mua tranh thì sao đủ sức “so găng” với các đại gia trên sàn đấu giá khi một bức xêm xêm cả chục tỷ đồng.

Trông vào nhà nước không xong, đường về quê hương của tranh Việt gần như chỉ biết trông chờ vào lòng hảo tâm của gia đình danh họa và tình yêu mỹ thuật của các nhà sưu tập tư nhân. Dù đấu giá thành công nhiều phiên nhưng nhà sưu tập Nguyễn Minh cũng thừa nhận có những bức giá đấu cao quá khiến ông phải bỏ cuộc vì tiềm lực tài chính không đủ. Nhất là thời gian gần đây, tranh Việt được các nhà sưu tập châu Á rất quan tâm, họ sẵn sàng vung núi tiền nhằm sở hữu. Điều này khiến việc hồi hương tranh Việt gặp trăm bề thách thức.

Những rào cản trên phải tìm được lời giải nếu chúng ta không muốn “chảy máu” tranh quý ra xứ người. Thế hệ con cháu không thể chiêm ngưỡng tinh hoa của cha ông, đó là điều rất thiệt thòi. Ông Trịnh Xuân Yên, Phó Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh cho biết, sinh thời, các họa sĩ xa xứ luôn hoài cố hương và khao khát đưa tranh về lưu giữ ở quê nhà.

"Vì những lý do khác nhau mà các danh họa phải rời Tổ quốc để sống và sáng tác nơi xứ người. Song dù gì, hồn cốt Việt vẫn là giá trị vĩnh hằng trong tranh của các họa sĩ tài danh trên. Tranh quý là tài sản quốc gia, hồn cốt người Việt, không thể để hồn cốt của dân tộc mình chảy hết ra nước ngoài. Việc hồi hương tranh Việt không chỉ mang giá trị về mặt mỹ thuật, mà còn có ý nghĩa về mặt văn hóa - xã hội” - nhà sưu tập Nguyễn Minh nhấn mạnh.

Phan Thi Uyên - Xuân 2019

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).